
Phaolô Trang Lập Quang
XĐ Tùng Lâm, GP Đà Lạt
Chợ Quế Thanh bổng trở nên hỗn loạn do một số thanh niên đánh nhau kịch liệt bằng những vũ khí sát thương. Tiếng quát tháo, tiếng đập phá, tiếng chân huỳnh huỵch rượt đuổi nhau… tạo nên một bầu khí đầy bất ổn và ngập tràn sát khí. Đúng như người ta thường nói: “trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết”. Hàng hóa của những sạp gần đó bị hất tung và dẫm đạp. Những cây mã tấu vung lên sáng lóe, những thanh sắt va chạm vào hung khí vang lên nghe đến rợn người. Trước cảnh tượng ấy, những người xung quanh phải trốn chạy để tìm chỗ an toàn. Khi công an đến chỉ còn là một cảnh tan hoang.
Nguyên nhân dẫn đến sự việc bắt đầu từ Diễm, một cô gái bán xôi dạo. Hôm ấy, Diễm ôm thúng xôi đi rao mời trong chợ thì có ba thanh niên đi đứng nghênh ngang chặn lại nói cộc lốc.
– Cho ba gói.
Lấy xôi xong, bọn côn đồ quay lưng bỏ đi làm Diễm vội vàng nói:
– Mấy anh cho em xin tiền!
Một tên trong nhóm vừa tủm tỉm cười vừa nói.
– Mai trả!
– Em đi bán lúc chỗ này lúc chỗ khác làm sao mấy anh biết em ở đâu mà trả.
– Đòi nữa tao cho thúng xôi ra đất đó.
Tuy có chút lo sợ nhưng Diễm không thể để mất cả vốn lẫn lời vì hoàn cảnh của cô rất khó khăn. Trước đây, cô chỉ biết ăn rồi học mà chẳng quan tâm đến chuyện cơm áo gạo tiền. Từ ngày mẹ mất, cô đành nghỉ học để lo cho hai đứa em được cắp sách đến trường. Nhưng chưa một lần bước chân vào đời và chẳng biết làm gì để sống nên cô phải bán xôi dạo mà thu nhập mỗi ngày chẳng được bao nhiêu, ấy là chưa kể những lúc bán ế. Vì thế Diễm cố nài nỉ bọn côn đồ để chúng trả tiền. Còn những người gần đó cảm thấy bất bình nhưng chỉ biết nói:
– Người ta khổ cực. Ăn của người ta làm gì!
Nhưng bọn côn đồ vẫn thản nhiên bỏ đi làm Diễm phải níu áo một tên lại. Bất ngờ hắn hất tung thúng xôi lên làm nó úp xuống đất. Diễm bàng hoàng chết lặng người nhìn cả gia sản mình gói gọn trong thúng xôi đã biến thành mây khói. Cô muốn khóc nhưng không còn khóc nổi. Những người xung quanh cảm thấy tức giận nhưng chỉ biết chửi chúng chứ chẳng làm gì hơn.
Bỗng một thanh niên bước tới quát tháo.
– Bồi thường cho người ta mới được đi!
Bọn côn đồ nhìn anh thanh niên với vẻ khinh bỉ.
– Thằng này láo há!
Vừa nói hắn vừa đấm thẳng vào anh thanh niên, nhưng anh ta liền xoay người để tránh đòn đồng thời quất ngược một cú “rờ ve” vào giữa mặt tên côn đồ làm máu mũi hắn phụt ra. Hai tên còn lại liền xông vào nhưng với những thế võ điêu luyện anh hạ gục bọn côn đồ trong tích tắc. Sau đó anh lột đồng hồ rồi móc túi bọn chúng lấy hết tiền bạc trao cho cô gái bán xôi và nói.
– Chỗ nào xôi đã bẩn vứt hết đi đừng tiếc nữa! Mau rời khỏi đây. Tụi nó quay lại bây giờ đó!
Anh thanh niên đó là Thái, một kẻ lang bạt kỳ hồ. Thái mồ côi từ thuở nhỏ phải chịu biết bao đắng cay cùng cực giữa biển đời cay nghiệt nên luôn đồng cảm với những mảnh đời bất hạnh. Tuy khốn khổ trong việc mưu sinh nhưng qua lời dặn dò của người mẹ trước lúc lâm chung, là đừng bao giờ bỏ học nên anh đã nỗ lực học hành rồi trở thành một cán bộ nhà nước. Qua nhiều năm miệt mài đèn sách với bao gian khổ để có một chỗ đứng trong xã hội nhưng anh lúc nào cũng như con thú hoang luôn nhớ đến rừng già, lúc nào cũng muốn nhảy ra khỏi cái lồng sắt. Với tính cách của một con người không chịu gò bó trong khuôn khổ và chẳng ưa nịnh nọt cấp trên nên anh chán ghét chuyện “vào luồn ra cúi, công hầu mà chi”.
Công tác được vài năm, Thái bỏ nhiệm sở rồi phiêu bạt giang hồ với cuộc sống nay đây mai đó. Để sinh tồn anh hòa đồng với những người lao khổ trong mọi công việc, đôi lúc lại đột nhập nhà những tham quan biến chất khi thấy có người lâm cơn túng quẫn cần giúp đỡ. Sở dĩ anh có khả năng này vì anh là một võ sỹ ưu tú. Trong thời niên thiếu, Thái rất say mê võ thuật, rồi khi trưởng thành lại từng đấu võ đài. Với một con người trải qua bao năm lăn lộn trong việc mưu sinh, phải tranh giành với cuộc sống để sinh tồn đã tạo cho anh một sự liều lĩnh lì lợm và không sợ đòn. Chính điều này khi kết hợp với võ chính quy nên anh chưa một lần thất bại, và khả năng leo trèo đu nhảy của anh cũng vượt trội nên đột nhập nhà riêng mấy ông tham quan cũng dễ dàng.
Đã quen với chuyện đấm đá và từng đánh nhau nên Thái bình thản đợi bọn côn đồ. Chỉ trong một thời gian ngắn năm tên lưu manh khác tay cầm mã tấu và những hung khí xông đến với vẻ mặt đắng đằng sát khí. Thái liền dùng cây đòn gánh thay cho trường côn. Vì trường côn có lợi thế dài hơn mã tấu nên những hung khí ấy khó tiếp cận được anh. Hơn nữa, nếu xảy ra án mạng, anh không bị kết tội cố sát. Thế là một trận hỗn chiến náo loạn cả góc chợ làm cho hàng hóa gần đó tan hoang. Người ta chỉ biết đau xót trước của cải mình bị đập phá dẫm đạp mà chẳng biết kêu ai đền bù vì khi công an đến chẳng còn bóng dáng những kẻ đánh nhau.
Thái bênh vực kẻ thế cô bằng vũ lực để trừng trị bọn côn đồ là đúng hay sai? Trước mắt cho thấy những hàng quán gần đó bị đập phá gây đau khổ mất mát cho những người buôn bán mà bọn côn đồ vẫn là côn đồ không chút gì thay đổi, thậm chí còn tạo nên hận thù không đáng có. Nếu như Thái và những người gần đó biết mở lòng mình ra giúp cô gái bán xôi những gì đã mất cũng đừng đối đầu với bọn chúng thì mọi chuyện trở nên bình yên mà không gây tổn thất cho những hàng quán xung quanh.
Trong xã hội loài người từ cổ chí kim và ở thời nào cũng có những bất công. Bất công len lỏi vào mọi ngành nghề: quan chức thì tham ô chèn ép dân lành, thương nhân thì mua gian bán lận, côn đồ thì cướp giật, quậy phá. Nếu dùng vũ lực để chế ngự bất công thì bất công vẫn là bất công không thể nào xóa sạch được! Đó là điều không thể! Trong “Cáo Bình Ngô”, Nguyễn Trãi đã viết: “Ta đây mưu phạt nhân tâm”. Chỉ có đánh vào lòng người mới cảm hóa được họ. Còn Chúa Giêsu thì dạy: “Đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài…” (Mt 6,39-41). Không những thế, khi bị đóng đinh trên thập giá mà còn chịu sỉ nhục của nhiều người nhưng Chúa vẫn cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).
Đó không phải là sự yếu đuối hay nhu nhược vì sử dụng bạo lực càng tăng thêm bạo lực và hận thù sẽ nối tiếp hận thù. Chúa đã làm gương cho ta về lòng khoan dung tha thứ để mối tương quan giữa người với người mãi thấm đẫm một tình yêu. Nhưng yêu thương tha thứ đòi hỏi người tín hữu phải hy sinh, phải chịu thiệt thòi và dấn thân vào chốn nguy nan để phục vụ tha nhân như lời kinh “Hòa Bình” của thánh Phanxicô Assisi: “Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm”. Chỉ có yêu thương tha thứ mới hoán cải được lòng người để họ quay về đường ngay nẻo chính và kiến tạo một thế giới hòa bình chứ không phải dùng vũ lực để khuất phục kẻ khác. Vì khuất phục kẻ khác bằng vũ lực sẽ tạo ra chiến tranh, chiến tranh sẽ tiếp diễn chiến tranh, hận thù sẽ nối tiếp hận thù. Chính Chúa Giêsu cũng dạy: “Tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm ”(Mt 26,52).
Qua những trang sử của Giáo hội, chính nhờ yêu thương tha thứ đã dẫn đưa biết bao người về đường ngay nẻo chính, nhất là thánh nữ Madalêna, một phụ nữ tội lỗi lại nên thánh. Hay Augustine là anh thanh niên ăn chơi trụy lạc đã trở thành thánh nhân. Còn thánh Phêrô vì muốn bảo toàn mạng sống của mình nên chối Chúa ba lần. Nhưng nhờ lòng khoan dung tha thứ của Chúa ông trở thành vị Giáo hoàng đầu tiên và cũng là một trong hai trụ cột của Hội thánh. Nổi bật hơn cả là sự trở lại của thánh Phaolô. Ông là một người nhiệt thành giữ đạo Do Thái nên rất căm ghét những người theo Chúa Giêsu và đã ra tay bắt bớ các tín hữu thời đầu rồi hành hung cho đến chết, ngay cả phụ nữ ông cũng không tha. Ông cũng có mặt trong vụ sát hại thánh Têphanô là người tử đạo đầu tiên của Hội thánh.
Trong một lần đi Damas để tìm bắt những người theo Chúa Giêsu thì ông bị ngã ngựa và nghe tiếng Chúa gọi. Từ đó ông đã thay đổi hoàn toàn rồi đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng. Trên bước đường truyền giáo ông nếm trải biết bao gian khó hiểm nguy, và không ít lần bị đánh đòn, bị ném đá rồi suýt chết vì đắm tàu, vì trộm cướp, vì dân Do Thái và dân ngoại. Nhưng với một đức tin mạnh mẽ, một lòng mến chân thành chỉ biết sống cho Chúa và vì Chúa mà thôi được thể hiện qua lời của ông: “Tôi sống không phải tôi sống mà Chúa đã sống trong tôi”. Cuối cùng ông bị chém đầu để nên chứng tá cho Tin Mừng và ông cùng là một trong hai trụ cột của Hội thánh.
Trong những lần trước đây, khi ông ra sức bách hại các tín hữu thời đầu, Chúa không giết ông để trừ hậu họa mà lại khoan dung tha thứ và ông đã cảm nhận được tình yêu cao cả của Ngài. Từ đó ông trở thành một khí cụ sắc bén của Chúa để loan truyền Phúc Âm: “để chiếu trông cậy vào nơi thất vọng, để rọi ánh sáng vào nơi tối tăm, và đem niềm vui đến chốn u sầu”.
Vì thế, vũ lực không cảm hóa được lòng người mà chỉ có yêu thương, tha thứ mới làm cho mối tương quan giữa người với người trở nên tốt đẹp hơn và kiến tạo một thế giới hòa bình.



























