Chúa nhật 23 Thường niên năm A (Mt 18,15-20)

“Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh.
Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại”. (Mt 18,17)

BÀI ĐỌC I: Ed 33, 7-9

“Nếu ngươi không chịu nói cho kẻ gian ác, thì Ta đòi máu nó bởi tay ngươi”.

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Đây Chúa phán: “Hỡi con người, Ta đã làm cho ngươi trở nên người lính canh nhà Israel: vậy khi nghe lời miệng Ta nói, ngươi hãy loan báo cho chúng thay Ta. Khi Ta phán cùng kẻ gian ác rằng: ‘Hỡi kẻ gian ác, mi sẽ phải chết’; nếu ngươi không chịu nói để kẻ gian ác bỏ đường lối mình, thì chính kẻ gian ác sẽ chết trong sự gian ác của nó, nhưng Ta đòi máu nó bởi tay ngươi. Còn khi ngươi loan báo cho kẻ gian ác bỏ đường lối nó, nếu nó không chịu bỏ đường lối nó, thì nó sẽ chết trong sự gian ác của nó, nhưng ngươi cứu được mạng sống ngươi”.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 94, 1-2. 6-7. 8-9

Đáp: Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: “Các ngươi đừng cứng lòng” (x. c. 8).

Xướng:

1) Hãy tới, chúng ta hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hô Đá Tảng cứu độ của ta! Hãy ra trước thiên nhan với lời ca ngợi, chúng ta hãy xướng ca để hoan hô Người! – Đáp.

2) Hãy tiến liên, cúc cung bái và sụp lạy, hãy quỳ gối trước nhan Chúa, Đấng tạo thành ta. Vì chính Người là Thiên Chúa của ta, và ta là dân Người chăn dẫn, là đoàn chiên thuộc ở tay Người. – Đáp.

3) Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: Đừng cứng lòng như ở Mêriba, như hôm ở Massa trong khu rừng vắng, nơi mà cha ông các ngươi đã thử thách Ta, họ đã thử Ta mặc dầu đã thấy công cuộc của Ta. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Rm 13, 8-10

“Yêu thương là chu toàn cả lề luật”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, anh em chớ mắc nợ ai ngoài việc phải yêu mến nhau. Vì ai yêu người, thì đã giữ trọn lề luật. Đó là: “Chớ ngoại tình; chớ giết người; chớ trộm cắp; chớ làm chứng gian; chớ mê tham”, và nếu có điều luật nào khác, thì cũng tóm lại trong lời này là: “Ngươi hãy yêu mến kẻ khác như chính mình”. Lòng yêu thương không làm hại kẻ khác. Vậy yêu thương là chu toàn cả lề luật.

Đó là lời Chúa.

Tin mừng: Mt 18, 15-20

15 “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em. 16 Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. 17 Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế. 18 “Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy. 19 “Thầy còn bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. 20 Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.”

Bài giảng của linh mục Ignatio Hồ Văn Xuân

 

Giáo lý cho bài giảng Chúa nhật 23 Thường niên năm A

WHĐ — Ban Biên tập WHĐ xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh Thánh của các lễ Chúa nhật, lễ trọng theo sự theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích trong Tập sách Hướng dẫn giảng thuyết được công bố qua Sắc lệnh ký ngày 29.06.2014

Số 2055: Mười Điều Răn tóm lại trong một giới răn là yêu thương

  1. Khi người ta đặt cho Người câu hỏi: “Điều răn nào là điều răn trọng nhất?” (Mt 22,36), Chúa Giêsu đáp: “Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi: đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Lề Luật và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy” (Mt 22,37-40)[1]. Mười Điều Răn phải được giải thích dưới ánh sáng của điều răn, tuy hai nhưng là một, là đức mến, đó là sự viên mãn của Lề Luật:

“Các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại, yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy” (Rm 13, 9-10).

 

Số 1443-1445: Việc giao hoà với Hội Thánh

  1. Trong đời sống công khai của Người, Chúa Giêsu không những đã tha tội, mà còn biểu lộ hiệu quả của việc tha tội này: Người đã đưa các tội nhân được tha thứ về lại với cộng đoàn dân Thiên Chúa, cộng đoàn mà tội lỗi đã khiến họ phải xa lìa, hay thậm chí khiến họ bị loại trừ. Một dấu chỉ tỏ tường của việc này là, Chúa Giêsu đã đón nhận các tội nhân vào bàn tiệc của Người, hơn nữa, chính Người ngồi đồng bàn với họ, cử chỉ này, một cách hùng hồn, vừa diễn tả ơn tha thứ của Thiên Chúa[2]và đồng thời, vừa nói lên sự trở về giữa lòng dân Thiên Chúa[3].
  2. Khi Chúa ban cho các Tông Đồ được tham dự vào quyền riêng của Người là quyền tha tội, Người cũng ban cho họ quyền giao hoà các tội nhân với Hội Thánh. Chiều kích giáo hội của nhiệm vụ này của các Tông Đồ được diễn tả cách đặc biệt trong những lời long trọng Đức Kitô nói với ông Phêrô: “Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16,19). “Nhiệm vụ cầm buộc và tháo cởi, đã được ban cho thánh Phêrô, cũng được ban cho tập thể các Tông Đồ, kết hợp với vị thủ lãnh của mình (x. Mt 18,18; 28,16-20)”[4].
  3. Các thuật ngữ cầm buộc tháo cởi có nghĩa là: ai bị anh em loại ra khỏi sự hiệp thông với anh em, thì người ấy cũng bị loại ra khỏi sự hiệp thông với Thiên Chúa; ai được anh em đón nhận lại vào sự hiệp thông với anh em, thì Thiên Chúa cũng đón nhận lại người ấy vào sự hiệp thông với Ngài. Việc giao hoà với Hội Thánh không thể tách biệt khỏi sự giao hoà với Thiên Chúa.

 

Số 2842-2845: “Như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”

  1. Từ “như” ở đây không phải là trường hợp duy nhất trong giáo huấn của Chúa Giêsu: “Anh em hãy nên hoàn thiện nhưCha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48); “Anh em hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6,36); “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Chúng ta không thể tuân giữ điều răn của Chúa, nếu chỉ bắt chước mẫu gương của Chúa theo dáng vẻ bên ngoài. Vấn đề ở đây là phải tham dự một cách sống động và “tận đáy lòng” vào sự thánh thiện, vào lòng thương xót, vào tình yêu của Thiên Chúa chúng ta. Chỉ có Thần Khí, “nhờ Ngài mà chúng ta sống” (Gl 5,25), mới có thể làm cho chúng ta có được những tâm tình như Đức Kitô Giêsu đã có[5]. Lúc đó hai việc tha thứ có thể trở nên một, nghĩa là, “biết tha thứ cho nhau như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Ep 4,32).
  2. Như thế, những lời Chúa dạy về tha thứ, nghĩa là về thứ tình yêu “yêu đến tận cùng của tình yêu”[6]là một thực tại sống động. Dụ ngôn về người đầy tớ không biết thương xót, kết thúc giáo huấn của Chúa về cộng đoàn giáo hội[7], được kết thúc bằng lời này: “Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình”. Thật vậy, ở đó, ở “tận đáy lòng”, mà mọi sự bị cầm buộc hay được tháo cởi. Việc không cảm thấy hay quên đi sự xúc phạm không tuỳ thuộc khả năng chúng ta; nhưng một khi trái tim biết tự hiến cho Chúa Thánh Thần sẽ biết biến đổi thương đau thành lòng thương xót, và thanh luyện ký ức bằng cách biến đổi sự xúc phạm thành lời chuyển cầu.
  3. Kinh nguyện Kitô giáo đi đến chỗ tha thứ cho kẻ thù[8].Lời cầu nguyện biến đổi người môn đệ bằng cách làm cho họ nên đồng hình đồng dạng với Thầy của mình. Tha thứ là một tột đỉnh của kinh nguyện Kitô giáo; chỉ trái tim nào hoà điệu với lòng trắc ẩn của Chúa mới có thể đón nhận hồng ân cầu nguyện. Tha thứ còn minh chứng rằng, trong thế giới này, tình yêu mạnh hơn tội lỗi. Các vị tử đạo, trong quá khứ cũng như hiện tại, đều làm chứng cho Chúa Giêsu về điều này. Tha thứ là điều kiện căn bản cho sự hòa giải giữa con cái Thiên Chúa với Cha của họ[9] và giữa con người với nhau[10].
  4. Việc tha thứ tự bản chất mang tính thần linh này không có giới hạn cũng như mức độ[11]. Nếu đề cập đến “những xúc phạm” (là “tội” theo Lc 11,4 hoặc “nợ” theo Mt 6,12), thì thật sự mọi người chúng ta luôn luôn là những kẻ mắc nợ: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái” (Rm 13,8). Sự hiệp thông của Ba Ngôi Chí Thánh là nguồn mạch và quy luật chân lý của bất cứ tương quan nào[12]. Chúng ta phải sống sự hiệp thông đó trong cầu nguyện, đặc biệt là trong bí tích Thánh Thể[13]:

“Thiên Chúa không nhận tế phẩm của những kẻ gây bất hoà, và Ngài truyền họ hãy rời bỏ bàn thờ, và đi làm hoà với anh em trước đã, ngõ hầu có thể giao hoà với Thiên Chúa bằng những lời nài xin an bình. Hy lễ đẹp lòng Chúa hơn cả là sự bình an của chúng ta, sự hoà thuận, tình đoàn kết của đoàn dân trong sự hợp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”[14].

 

Các bài giảng và huấn dụ của Đức Thánh Cha trong Chúa nhật 23 Thường niên năm A:

Đây là những bài giảng và huấn dụ của Đức Thánh Cha trong các thánh lễ và các buổi đọc kinh truyền tin với các tín hữu vào Chúa nhật 23 Thường niên năm A.

Đức Phanxicô:

06.09.2020 – Sửa lỗi anh chị em trong tình yêu mến

10.09.2017 – Hãy đi bước trước

07.09.2014 – Sửa lỗi cho nhau là một sự phục vụ

 

Huấn dụ Chúa nhật 23 Thường niên năm A (10/9/2023) – Sửa lỗi là một cách diễn tả của tình yêu

Anh chị em thân mến,

Phúc âm Chúa nhật hôm nay giới thiệu đề tài sửa lỗi huynh đệ trong cộng đoàn tín hữu: nghĩa là tôi phải sửa lỗi một kitô hữu khác như thế nào, khi anh ta làm một điều không tốt. Chúa Giêsu dậy chúng ta rằng nếu người anh em kitô của tôi phạm một lỗi chống lại tôi, xúc phạm đến tôi, tôi phải dùng lòng bác ái đối với người đó, và trước hết nói chuyện với họ một cách cá nhân, bằng cách giải thích cho họ rằng điều họ đã nói hay đã làm không tốt. Và nếu người anh em đó không nghe tôi thì sao? Chúa Giêsu gợi ý một sự can thiệp tiệm tiến: trước hết trở lại nói chuyện với họ với hai hay ba người, để họ ý thức hơn về lỗi lầm họ đã làm. Nếu mặc dù thế họ không đón nhận lời khích lệ, thì phải nói với cộng đoàn; nếu người ấy cũng không nghe cả cộng đoàn nữa, thì phải làm cho họ nhận thức được sự bẻ gãy và xa cách, mà chính họ đã gây ra, khiến cho sự hiệp thông với các anh em khác trong đức tin bị giảm thiểu đi.

Các chặng của lộ trình này cho thấy Chúa xin cộng đoàn của Người đồng hành với kẻ lầm lỗi để họ đừng hư mất. Trước hết cần phải tránh sự ồn ào của tin tức và sự bép xép của cộng đoàn – đó là điều đầu tiên phải tránh – “Hãy đi và sửa lỗi người anh em, con với nó mà thôi” (c. 15). Thái độ là sự tế nhị, cẩn trọng, khiêm tốn, chú ý đối với người đã phạm một lỗi, bằng cách tránh các lời nói có thể gây thương tích và giết chết người anh em. Bởi vì anh chị em biết, các lời nói có thể giết người! Khi tôi nói xấu nói hành, khi tôi có một lời chỉ trích bất công, khi tôi “lột da” một người anh em với cái lưỡi của tôi, đó là giết chết danh dự của người khác. Chúng ta phải để ý tới điều này. Đồng thời sư kín đáo nói chuyện với người đó một mình không có mục đích làm nhục người có tội một cách vô ích. Nói chuyện giữa hai người, không ai nhận thấy và tất cả kết thúc. Chính dưới ánh sáng của đòi buộc này mà chúng ta cũng hiểu được các loạt can thiệp tiếp theo, dự kiến sự tham dự của vài chứng nhân, và rồi cả cộng đoàn nữa. Mục đích là giúp người anh em ý thức được điều họ đã làm, và với lỗi lầm của họ, họ đã không chỉ xúc phạm tới một người khác, mà xúc phạm tới tất cả mọi người. Nhưng cũng là để giúp chúng ta giải thoát mình khỏi sự giận dữ hay oán hận, chỉ gây đau đớn; nỗi cay đắng của con tim đem lại sự giận dữ và đau xót, và khiến cho chúng ta chửi rủa và gây hấn. Thật rất xấu, thấy ra khỏi miệng một kitô hữu một lời chửi rủa hay một gây hấn. Thật là xấu! Hiểu chưa? Không có chửi rủa nhé! Chửi rủa không phải là kitô. Anh chị em có hiểu chưa?

Thật ra, trước mặt Thiên Chúa chúng ta tất cả là những người tội lỗi cần được tha thứ. Tất cả. Thật vậy Chúa Giêsu dạy chúng ta đừng xét đoán. Việc sửa lỗi huynh đệ là một khía cạnh của tình yêu thương và sự hiệp thông, phải ngự trị trong cộng đoàn kitô; nó là một phục vụ mà chúng ta có thể và phải làm cho nhau. Sửa lỗi người anh em là một phục vụ, và nó chỉ có thể và hữu hiệu, nếu mỗi người thừa nhận mình là kẻ có tội, cần được ơn tha thứ của Chúa. Cùng ý thức đó giúp tôi nhận biết sai lầm của người khác, nhưng trước đó nữa nó nhắc cho tôi biết rằng tôi đã sai lầm, và sai lầm biết bao nhiêu lần.

Chính vì thế vào đầu mỗi Thánh Lễ chúng ta được mời gọi thừa nhận trước mặt Chúa chúng ta là kẻ có tội, bằng cách diễn tả ra bằng các lời nói và các cử chỉ sự thống hối chân thành của con tim. Và chúng ta nói: “Xin thương xót con, lạy Chúa. Con là kẻ có tội! Lạy Thiên Chúa Toàn Năng, con xưng thú các tội lỗi của con”. Chứ chúng ta không nói: “Lạy Chúa xin thương xót cái ông bên cạnh con đây, hay cái bà kia, là những kẻ tội lỗi”. Không. “Xin thương xót con!” Chúng ta tất cả đều là những người tội lỗi và cần sự tha thứ của Chúa. Chính Chúa Thánh Thần nói với thần trí chúng ta, và làm cho chúng ta nhận biết các lỗi lầm của chúng ta dưới ánh sáng lời Chúa Giêsu. Và cũng chính Chúa Giêsu mới gọi chúng ta tất cả, thánh thiện và tội lỗi, đếm bàn tiệc của Ngài, bằng cách quy tụ chúng ta từ mọi ngã tư đường, từ các hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống (x. Mt 22,9-10). Và trong số các điều kiện chung cho các người tham dự buổi cử hành thánh thể, có hai điều nền tảng, hai điều kiện để đi tham dự Thánh Lễ: chúng ta tất cả là người tội lỗi, và Thiên Chúa ban lòng thương xót của Ngài cho tất cả mọi người. Đó là hai điều kiện mở toang cửa cho chung ta vào dự Thánh Lễ cách tốt đẹp. Chúng ta phải luôn nhớ điều ấy trước khi đi sửa lỗi người anh em. Chúng ta hãy xin tất cả những điều này qua sự bầu cử của Đức Trinh Nữ Diễm Phúc Maria, mà ngày mai chúng ta mừng sinh nhật của Mẹ.

Nguồn: archivioradiovaticana.va

 

Huấn dụ Chúa nhật 23 Thường niên năm A (06/9/2020) – Sửa lỗi anh chị em trong tình yêu mến

Anh chị em thân mến,

Tin mừng Chúa nhật hôm nay (Mt 18,15-20) trích từ bài giảng thứ tư của Đức Giê-su trong Tin mừng Matthêu, trình thuật được biết dưới tên gọi “Bài giảng về Giáo Hội” hay “Giáo huấn cộng đoàn”. Trình thuật này nói đến việc sửa lỗi anh em, và mời gọi chúng ta suy niệm về chiều kích kép của sự hiện hữu Ki-tô giáo: chiều kích cộng đoàn, hệ ở việc duy trì sự hiệp thông, tức là sự hiệp nhất của Giáo hội, và chiều kích cá nhân, hệ ở việc quan tâm và tôn trọng mọi phán quyết cá nhân.

Để sửa lỗi người anh em lầm lạc, Đức Giê-su gợi ý một lối sư phạm phục hồi. Lối sư phạm của Chúa Giêsu luôn là lối sư phạm phục hồi. Lối sư phạm phục hồi này ngang qua ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất nói rằng: “anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi” (c. 15), điều này có nghĩa là không bêu tội người ấy ra giữa công chúng. Sửa lỗi là đến với người anh em với sự dè dặt, không phải để phán xét nhưng để giúp người ấy nhận ra những gì mình đã làm. Bao nhiêu lần chúng ta đã có kinh nghiệm này: một ai đó đến nói với chúng ta: “Nghe này, trong việc này, bạn đã sai. Bạn phải thay đổi một chút”. Có lẽ lúc đầu chúng ta bực mình, nhưng rồi chúng ta cảm ơn, bởi vì đây là cử chỉ của tình huynh đệ, của sự hiệp thông, của sự giúp đỡ và cứu vớt.

Không dễ để thực hành lời dạy này của Đức Giê-su vì nhiều lý do. Có thể vì sợ người anh em, chị em sẽ phản ứng cách tiêu cực; đôi khi thiếu đi sự tin tưởng cần thiết với người anh chị em đó… và còn nhiều lý do khác nữa. Nhưng tất cả những lần chúng ta đã thực hiện, thì chúng ta cảm nhận đấy chính là con đường của Chúa.

Tuy vậy, có thể xảy ra là, cho dù tôi có ý tốt, giai đoạn thứ nhất vẫn bị thất bại. Trong trường hợp này, tốt nhất là đừng nên bỏ cuộc và nói: “Tôi từ bỏ, tôi rửa tay luôn”. Không, lối này không phải của Kitô hữu. Đừng bỏ cuộc, điều quan trọng là không nên bỏ cuộc nhưng tìm đến sự hỗ trợ của vài anh chị em khác. Đức Giê-su nói: “Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân” (c. 16). Đây là một trong những điều luật của ông Mô-sê (x. Đnl 19, 15). Điều này có vẻ như đang chống lại bị cáo, nhưng thực ra là để bảo vệ người đó khỏi những người vu khống. Nhưng ở đây, Đức Giê-su còn đi xa hơn ở chỗ, những nhân chứng được yêu cầu không phải để kết án mà để trợ giúp. “Chúng ta đồng ý với nhau, tôi với anh đi nói chuyện với nhau về điều này, về điều đang sai. Nhưng chúng ta nói chuyện như những người anh em”. Đây là thái độ phục hồi mà Chúa Giêsu muốn nơi chúng ta. Tiếp đến, Đức Giê-su đặt tình huống là giai đoạn này cũng không đem lại kết quả với các nhân chứng, điều khác với luật Mô-sê là, để làm chứng chỉ cần hai hay ba chứng nhân là đủ kết án.

Trong thực tế, ngay cả lòng bác ái của hai hay ba người anh em vẫn chưa đủ, do người này cứng đầu. Trong trường hợp này, Đức Giê-su nói tiếp: “hãy đi thưa cộng đoàn” (c. 17), nghĩa là Hội Thánh. Trong một số trường hợp, tất cả cộng đoàn đều tham gia. Có những điều mà anh chị em trong cộng đoàn không thể làm ngơ, đó là khi cần một tình yêu lớn để được lại người anh em mình. Tuy vậy, đôi khi cả điều này cũng không đủ. Và do đó, Đức Giê-su nói: “Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế (c. 17). Câu nói này, thoạt nghe thì có vẻ như một thái độ ruồng bỏ, nhưng thực ra, đó là lời mời gọi chúng ta phó mặc người anh em trong tay Chúa. Chỉ có Cha trên trời mới có thể bày tỏ một tình yêu lớn hơn tất cả những gì chúng ta hợp lại.

Giáo huấn này của Chúa Giê-su giúp chúng ta rất nhiều, bởi vì – hãy nghĩ về một ví dụ – khi chúng ta nhìn thấy một sai lầm, một khuyết điểm, một sơ xuất ở anh chị em, thường thì việc đầu tiên chúng ta làm là đi nói với người khác về điều đó, ngồi lê đôi mách. Và câu chuyện ngồi lê đóng cửa trái tim cộng đoàn, ngăn cản sự hiệp nhất Giáo hội. Kẻ ngồi lê đôi mách là ma quỷ, kẻ luôn đi nói những điều xấu của người khác, vì họ là kẻ nói dối, cố gắng làm mất sự hiệp nhất Giáo hội, xa lánh anh em mình và không tạo nên cộng đoàn. Xin anh chị em, chúng ta cố gắng không ngồi lê đôi mách. Ngồi lê đôi mách là một bệnh dịch còn tồi tệ hơn cả Covid! Hãy cố gắng: không ngồi lê đôi mách.

Đó là tình yêu của Đức Giê-su khi Ngài tiếp đón người thu thuế và dân ngoại, điều ấy từng khiến dân chúng sửng sốt kinh ngạc. Đây không phải là sự kết án mà không có báo trước, nhưng là để nhận thấy rằng đôi khi nỗ lực của chúng ta không đem lại kết quả gì, và rằng chỉ khi đến với Chúa mới làm cho người anh em đối diện với chính lương tâm của mình và với trách nhiệm về những hành động đã làm. Nếu điều gì đó chưa được, thì hãy im lặng và cầu nguyện cho người anh chị em có lỗi, nhưng đừng bao giờ ngồi lê đôi mách.

Xin Mẹ Maria Đồng Trinh giúp chúng ta biết làm cho việc sửa lỗi anh em trở nên một thói quen tốt lành hầu trong cộng đoàn chúng ta luôn có những tương quan huynh đệ, được đặt nền trên sự tha thứ lẫn nhau và nhất là trên sức mạnh tuyệt đối của lòng thương xót Chúa.

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Bài giảng Chúa nhật 23 Thường niên năm A (10/9/2017) – Hãy đi bước trước

(Đức Thánh cha tông du Colombia)

Anh chị em thân mến,

Chính tại thành phố này, nơi được mệnh danh là “anh hùng” vì sự kiên trì bảo vệ tự do cách đây hai trăm năm, mà tôi cử hành Thánh lễ kết thúc chuyến viếng thăm của tôi. Trong ba mươi hai năm qua, Cartagena de Indias cũng là trụ sở Nhân quyền ở Colombia. Vì ở đây người dân trân trọng sự thật rằng, “nhờ nhóm truyền giáo được thành lập bởi các linh mục Dòng Tên Peter Claver y Corberó, Alonso de Sandoval và Thầy Nicolás González, cùng với nhiều công dân của thành phố Cartagena de Indias vào thế kỷ XVII, mà đã nảy sinh ước muốn để xoa dịu tình trạng của những người bị áp bức thời bấy giờ, đặc biệt là những người nô lệ, những người cầu xin sự đối xử công bằng và tự do” (Quốc hội Colombia 1985, luật 95, điều 1).

Và cũng chính tại đây, tại Thánh địa Thánh Peter Claver, nơi sự tiến bộ và việc áp dụng nhân quyền ở Colombia tiếp tục được nghiên cứu và theo dõi một cách có hệ thống, mà Lời Chúa hôm nay nói với chúng ta về sự tha thứ, việc sửa lỗi, tính cộng đoàn và việc cầu nguyện.

Trong bài giảng thứ tư của Tin mừng Thánh Matthêu, Chúa Giêsu nói với chúng ta là những người đã quyết định hỗ trợ cộng đồng, những người cùng nhau coi trọng cuộc sống và mơ về một dự án bao gồm tất cả mọi người. Đoạn văn trước đoạn Tin mừng hôm nay nói về người mục tử nhân lành bỏ chín mươi chín con chiên để đi tìm con chiên bị lạc. Sự thật này thấm sâu vào toàn bộ bản văn chúng ta vừa nghe: không có ai quá lạc lối đến mức không xứng đáng để được chúng ta chăm sóc, gần gũi và tha thứ. Từ góc độ này, chúng ta có thể thấy rằng một lỗi lầm hoặc một tội lỗi bị phạm bởi một người thì gây thách thức cho tất cả chúng ta, nhưng chủ yếu là liên quan đến nạn nhân do tội lỗi của ai đó gây ra. Anh ta hoặc cô ta được kêu gọi chủ động đi bước trước để bất cứ ai gây ra thiệt hại không bị lạc. Chủ động đi bước trước: người chủ động đi bước trước luôn là người can đảm nhất.

Trong những ngày nay tôi nghe bao nhiêu chứng từ của những người đã đi gặp những kẻ đã gây ra đau khổ tai ương cho họ. Những vết thương kinh khủng mà tôi đã có thể nhìn thấy nơi chính thân thể của họ; những mất mát không thể chữa lành vẫn còn làm cho họ khóc lóc, nhưng những người ấy đã đi, đã thực hiện bước đầu trên con đường khác với những con đường đã đi qua. Vì từ mấy thập niên rồi Colombia đang tìm kiếm hòa bình, và như Chúa Giêsu dạy, – nếu hai bên chỉ đến gần nhau, đối thoại mà thôi thì vẫn không đủ, còn cần có sự can dự của nhiều tác nhân khác trong tiến trình đối thoại chữa lành các tội lỗi nữa. “Nếu họ không nghe, thì hãy dẫn một hai người nữa đi với con” (Mt 18,16), như Chúa Giêsu đã nói trong Phúc Âm.

Chúng ta đã học biết rằng những con đường hòa bình, dành ưu tiên cho lý trí trên sự trả thù, đặt sự hòa hợp tế nhị giữa chính trị và luật pháp, không thể loại bỏ những hoạt động của dân chúng. Đề ra những khuôn khổ qui tắc và hiệp định giữa các nhóm chính trị và kinh tế có thiện chí, thì vẫn chưa đủ. Chúa Giêsu tìm ra giải pháp cho sự ác trong cuộc gặp gỡ đích thân giữa các phe với nhau. Ngoài ra, một điều luôn luôn hữu ích, đó là đưa vào trong các tiến trình hòa bình kinh nghiệm của các tầng lớp dân chúng. Những kinh nghiệm này, trong nhiều trường hợp, đã không được để ý tới; cần làm sao để chính các cộng đoàn mang lại những sắc thái cho các hoạt động tập thể tưởng nhớ những gì đã xảy ra. Tác nhân chính, chủ thể lịch sử của tiến trình này là dân chúng và văn hóa của họ, chứ không phải một giai cấp, một phe phái, một nhóm hoặc một lực lượng ưu tú. Chúng ta không cần một dự phóng của một nhóm ít người nhắm tới một thiểu số, hoặc một nhóm ít người thông thạo chiếm hữu tâm tình của tập thể. Đây là một thỏa thuận để sống chung, một khế ước xã hội và văn hóa” (x. Evangelii Gaudium. 239)

Chúng ta có thể đóng góp nhiều cho bước đường mới mà Colombia muốn thực hiện. Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta con đường tái hội nhập vào cộng đoàn nhờ một cuộc đối thoại hai người. Không gì có thể thay thế cuộc gặp gỡ chữa lành như thế; không có tiến trình tập thể nào chuẩn chước cho chúng ta thách đố gặp gỡ nhau, giải thích cho nhau, tha thứ. Những vết thương sâu đậm của lịch sử nhất thiết đòi những thẩm quyền qua đó người ta thi hành công lý, trong đó các nạn nhân có thể nhận ra chân lý, thiệt hại được đền bù thích đáng, và hành động minh bạch để tránh tái diễn những tội ác đã xảy ra. Nhưng tất cả những điều đó mới chỉ để cho chúng ta ở ngưỡng cửa những đòi hỏi của Kitô giáo mà thôi. Chúng ta còn được yêu cầu tạo nên một sự thay đổi từ hạ tầng: đối lại với văn hóa chết chóc, bạo lực, chúng ta đáp lại bằng văn hóa sự sống, văn hóa gặp gỡ. Chúng ta đã học được điều này từ tác giả yêu quý của chính bạn, người mà tất cả chúng ta đều được hưởng lợi: “Thảm họa văn hóa này không được khắc phục bằng chì hay bạc, mà bằng một nền giáo dục vì hòa bình, được xây dựng một cách yêu thương trên đống đổ nát của một đất nước giận dữ, nơi mà chúng ta dậy sớm để tiếp tục giết hại lẫn nhau… một cuộc cách mạng hòa bình hợp pháp, đó là con kênh dẫn tới sự sống, dẫn tới một nguồn năng lượng sáng tạo to lớn mà trong gần hai thế kỷ chúng ta đã sử dụng để hủy diệt chúng ta và điều đó minh chứng và đề cao ưu thế của quan niệm” (Gabriel García Márquez, Thông điệp về Hòa bình, 1998).

Chúng ta đã hành động thế nào để bênh vực việc gặp gỡ, hòa bình? Chúng ta đã thiếu bỏ sót những gì, khiến cho những hành vi man rợ xảy ra trong đời sống của dân chúng ta? Chúa Giêsu truyền chúng ta phải đối chiếu những cách cư xử, những lối sống gây thiệt hại cho xã hội, phá hủy cộng đoàn. Bao nhiều lần xảy ra những bạo lực, sự loại trừ khỏi xã hội được bình thường hóa, mà chúng ta không lên tiếng, không giơ tay lên tố giác theo tinh thần ngôn sứ. Bên cạnh thánh Phêrô Claver, có hàng ngàn Kitô hữu thời ấy, nhưng chỉ có một nhóm rất ít người bắt đầu một nền văn hóa gặp gỡ đi ngược lại. Thánh Phêrô Claver đã biết tái lập phẩm giá và hy vọng cho hàng trăm ngàn người da đen và người nô lệ, họ bị đưa đến đây trong tình trạng vô nhân đạo hoàn toàn, đầy kinh hoàng, mất mát mọi hy vọng. Thánh nhân không có bằng cấp nổi tiếng, thậm chí còn bị coi là người “tài cán tầm thường”, nhưng ngài có một thiên tài sống trọn vẹn Tin mừng, gặp gỡ những người bị người khác coi là đồ bỏ. Nhiều thế kỷ sau đó, ảnh hưởng của vị thừa sai và tông đồ này của Dòng Tên đã được thánh nữ Maria Bernarda Buetler noi theo, thánh nữ đã hiến cuộc đời, tận tụy phục vụ những người nghèo và người bị gạt ra ngoài lề tại chính thành phố Cartagena này. [Thánh nữ cũng có sự khôn ngoan bác ái và biết cách tìm thấy Thiên Chúa nơi người lân cận; thánh nữ cũng không bị tê liệt bởi sự bất công và thử thách, bởi vì “khi xảy ra xung đột, một số người chỉ biết nhìn rồi bỏ đi như thể chẳng có gì xảy ra; họ phủi tay rồi tiếp tục cuộc sống của mình. Những người khác thì bám chặt lấy nó khiến họ trở thành tù nhân của nó; họ bị mất phương hướng, phóng chiếu sự hoang mang và bất mãn của họ vào các tổ chức và vì thế làm cho không thể nào có được sự hiệp nhất. Nhưng cũng có một cách thứ ba, và đây là cách tốt nhất để xử lý xung đột. Đó là sẵn sàng trực diện với xung đột, giải quyết nó và làm nó trở thành mắt xích trong sợi dây của một qui trình mới”. (Evangelii Gaudium, số 227)]

Trong cuộc gặp gỡ giữa chúng ta, chúng ta khám phá lại các quyền của mình và chúng ta tái tạo cuộc sống của mình để chúng tái hiện như một con người đích thực. “Ngôi nhà chung của mọi người nam nữ phải tiếp tục phát triển trên nền tảng của sự hiểu biết đúng đắn về tình huynh đệ phổ quát và tôn trọng sự thiêng liêng của mỗi sự sống con người, của mọi người nam nữ, người nghèo, người già, trẻ em, người đau yếu… , những đứa trẻ chưa sinh ra, những người thất nghiệp, những người bị bỏ rơi, những người bị coi là đồ dùng một lần vì họ chỉ được coi là một phần của số liệu thống kê. Ngôi nhà chung này của tất cả mọi người nam nữ cũng phải được xây dựng trên sự hiểu biết về một sự thiêng liêng nào đó của thiên nhiên được tạo dựng” (Diễn văn tại Liên Hợp Quốc, ngày 25 tháng 9 năm 2015).

Trong Tin mừng, Chúa Giêsu cũng cho chúng ta thấy khả năng người khác có thể vẫn khép kín, không chịu thay đổi, khăng khăng làm điều ác. Chúng ta không thể phủ nhận rằng có những người vẫn tiếp tục phạm tội làm tổn hại đến cơ cấu sống chung và cộng đồng của chúng ta: “Tôi cũng nghĩ đến thảm kịch đau lòng về lạm dụng ma túy, thu lợi nhuận bằng việc coi thường luật luân lý và luật dân sự. Sự ác này trực tiếp đi ngược lại phẩm giá con người và dần dần xé nát hình ảnh mà Đấng Tạo Hóa đã hình thành trong chúng ta. Tôi kiên quyết lên án việc buôn bán này, một việc đã giết chết rất nhiều người và được nuôi dưỡng bởi những người có tâm hồn chai cứng. Cuộc sống của anh chị em chúng ta không thể bị đùa giỡn, cũng không thể coi phẩm giá của họ là công cụ. Tôi kêu gọi tìm ra những cách thức để ngăn chặn việc buôn bán ma túy vốn chỉ gieo rắc cái chết khắp nơi, tiêu diệt biết bao hy vọng và phá hủy biết bao gia đình. Tôi cũng nghĩ đến một thảm kịch khác: tôi nghĩ đến sự tàn phá tài nguyên thiên nhiên và tình trạng ô nhiễm đang diễn ra, cũng như thảm kịch bóc lột sức lao động. Tôi cũng nghĩ đến việc trao đổi tiền bất hợp pháp và đầu cơ tài chính, những việc thường tỏ ra vừa có tính chất săn mồi vừa có hại cho toàn bộ hệ thống kinh tế và xã hội, đẩy hàng triệu người nam nữ vào tình trạng nghèo đói. Tôi nghĩ đến nạn mại dâm, nạn mại dâm hàng ngày cướp đi những nạn nhân vô tội, đặc biệt là giới trẻ, cướp đi tương lai của họ. Tôi nghĩ đến sự ghê tởm của nạn buôn người, tội ác và lạm dụng đối với trẻ vị thành niên, nỗi kinh hoàng của chế độ nô lệ vẫn còn hiện diện ở nhiều nơi trên thế giới; thảm kịch thường bị bỏ qua đối với những người di cư, những người thường là nạn nhân của sự thao túng đáng hổ thẹn và bất hợp pháp” (Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới, 2014, 8), và tôi cũng nghĩ đến mong muốn kiếm lợi từ “tính hợp pháp vô trùng” theo chủ nghĩa hòa bình vốn coi thường thân xác của anh chị em chúng ta, thân xác của Chúa Kitô. Chúng ta cũng phải chuẩn bị cho điều này, và phải đặt nền tảng vững chắc trên những nguyên tắc công lý không hề làm suy giảm lòng bác ái. Chỉ có thể sống hoà bình bằng cách tránh những hành động làm băng hoại, tổn hại đến cuộc sống. Trong bối cảnh này, chúng ta nhớ đến tất cả những người đã dũng cảm và không mệt mỏi, đã làm việc và thậm chí đã mất mạng để bảo vệ các quyền lợi và phẩm giá của con người. Lịch sử yêu cầu chúng ta thực hiện một cam kết dứt khoát để bảo vệ nhân quyền tại đây, tại Cartagena de Indias, nơi mà các bạn đã chọn làm trung tâm bảo vệ quốc gia của họ.

Cuối cùng, Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta cùng nhau cầu nguyện, để lời cầu nguyện của chúng ta, ngay cả với những sắc thái riêng tư và những mức độ khác nhau, trở thành một bản giao hưởng và phát sinh như một tiếng kêu duy nhất. Tôi tin chắc rằng hôm nay chúng ta cùng nhau cầu nguyện để giải cứu những người đã sai trái chứ không phải để hủy diệt họ, cầu nguyện vì công lý chứ không phải để trả thù, cầu nguyện để được chữa lành trong sự thật chứ không phải để bị lãng quên. Chúng ta cầu nguyện để hoàn thành chủ đề của chuyến viếng thăm này: “Chúng ta hãy thực hiện bước đầu tiên!” Và mong rằng bước đầu tiên này sẽ đi theo một hướng chung.

“Đi bước đầu tiên” trước hết là đi ra ngoài và gặp gỡ người khác với Chúa Kitô. Và Người luôn yêu cầu chúng ta thực hiện một bước đi cương quyết và chắc chắn đối với anh chị em mình, đồng thời từ bỏ đòi hỏi để bản thân được tha thứ mà chính mình lại không thể hiện sự tha thứ, bản thân được yêu thương mà chính mình không thể hiện tình yêu. Nếu Colombia muốn có một nền hòa bình ổn định và lâu dài, thì nước này phải khẩn trương thực hiện một bước theo hướng này, đó là hướng tới lợi ích chung, công bằng, công lý, tôn trọng bản chất con người và những đòi hỏi của nó. Chỉ khi chúng ta giúp tháo gỡ những nút thắt của bạo lực, chúng ta mới tháo gỡ được những bất đồng phức tạp. Chúng ta được yêu cầu thực hiện bước đi gặp gỡ anh chị em của mình và mạo hiểm thực hiện một sự sửa sai với ý định không loại trừ, nhưng là hội nhập. Và chúng ta được yêu cầu phải kiên trì với lòng bác ái trong điều không thể thương lượng được. Tóm lại, nhu cầu là xây dựng hòa bình, “không nói bằng lưỡi mà bằng đôi tay và việc làm” (Thánh Phêrô Claver), và cùng nhau ngước mắt lên trời. Chúa có thể gỡ rối những điều dường như không thể đối với chúng ta; Người đã hứa sẽ đồng hành cùng chúng ta cho đến tận thế và sẽ không để cho những nỗ lực của chúng ta trở nên vô ích.

Nguồn: archivioradiovaticana.va

 

Huấn dụ Chúa nhật 23 Thường niên năm A (07/9/2014) – Sửa lỗi cho nhau là một sự phục vụ

Anh chị em thân mến,

Phúc Âm Chúa nhật hôm nay giới thiệu đề tài sửa lỗi huynh đệ trong cộng đoàn tín hữu: nghĩa là tôi phải sửa lỗi một kitô hữu khác như thế nào, khi anh ta làm một điều không tốt. Chúa Giêsu dậy chúng ta rằng nếu người anh em kitô của tôi phạm một lỗi chống lại tôi, xúc phạm đến tôi, tôi phải dùng lòng bác ái đối với người đó, và trước hết nói chuyện với họ một cách cá nhân, bằng cách giải thích cho họ rằng điều họ đã nói hay đã làm không tốt. Và nếu người anh em đó không nghe tôi thì sao? Chúa Giêsu gợi ý một sự can thiệp tiệm tiến: trước hết trở lại nói chuyện với họ với hai hay ba người, để họ ý thức hơn về lỗi lầm họ đã làm. Nếu mặc dù thế họ không đón nhận lời khích lệ, thì phải nói với cộng đoàn; nếu người ấy cũng không nghe cả cộng đoàn nữa, thì phải làm cho họ nhận thức được sự bẻ gãy và xa cách, mà chính họ đã gây ra, khiến cho sự hiệp thông với các anh em khác trong đức tin bị giảm thiểu đi.

Các chặng của lộ trình này cho thấy Chúa xin cộng đoàn của Người đồng hành với kẻ lầm lỗi để họ đừng hư mất. Trước hết cần phải tránh sự ồn ào của tin tức và sự bép xép của cộng đoàn – đó là điều đầu tiên phải tránh – “Hãy đi và sửa lỗi người anh em, con với nó mà thôi” (c. 15). Thái độ là sự tế nhị, cẩn trọng, khiêm tốn, chú ý đối với người đã phạm một lỗi, bằng cách tránh các lời nói có thể gây thương tích và giết chết người anh em. Bởi vì anh chị em biết, các lời nói có thể giết người! Khi tôi nói xấu nói hành, khi tôi có một lời chỉ trích bất công, khi tôi “lột da” một người anh em với cái lưỡi của tôi, đó là giết chết danh dự của người khác. Chúng ta phải để ý tới điều này. Đồng thời sư kín đáo nói chuyện với người đó một mình không có mục đích làm nhục người có tội một cách vô ích. Nói chuyện giữa hai người, không ai nhận thấy và tất cả kết thúc. Chính dưới ánh sáng của đòi buộc này mà chúng ta cũng hiểu được các loạt can thiệp tiếp theo, dự kiến sự tham dự của vài chứng nhân, và rồi cả cộng đoàn nữa. Mục đích là giúp người anh em ý thức được điều họ đã làm, và với lỗi lầm của họ, họ đã không chỉ xúc phạm tới một người khác, mà xúc phạm tới tất cả mọi người. Nhưng cũng là để giúp chúng ta giải thoát mình khỏi sự giận dữ hay oán hận, chỉ gây đau đớn; nỗi cay đắng của con tim đem lại sự giận dữ và đau xót, và khiến cho chúng ta chửi rủa và gây hấn. Thật rất xấu, thấy ra khỏi miệng một kitô hữu một lời chửi rủa hay một gây hấn. Thật là xấu! Hiểu chưa? Không có chửi rủa nhé! Chửi rủa không phải là kitô. Anh chị em có hiểu chưa?

Thật ra, trước mặt Thiên Chúa chúng ta tất cả là những người tội lỗi cần được tha thứ. Tất cả. Thật vậy Chúa Giêsu dạy chúng ta đừng xét đoán. Việc sửa lỗi huynh đệ là một khía cạnh của tình yêu thương và sự hiệp thông, phải ngự trị trong cộng đoàn kitô; nó là một phục vụ mà chúng ta có thể và phải làm cho nhau. Sửa lỗi người anh em là một phục vụ, và nó chỉ có thể và hữu hiệu, nếu mỗi người thừa nhận mình là kẻ có tội, cần được ơn tha thứ của Chúa. Cùng ý thức đó giúp tôi nhận biết sai lầm của người khác, nhưng trước đó nữa nó nhắc cho tôi biết rằng tôi đã sai lầm, và sai lầm biết bao nhiêu lần.

Chính vì thế vào đầu mỗi Thánh Lễ chúng ta được mời gọi thừa nhận trước mặt Chúa chúng ta là kẻ có tội, bằng cách diễn tả ra bằng các lời nói và các cử chỉ sự thống hối chân thành của con tim. Và chúng ta nói: “Xin thương xót con, lạy Chúa. Con là kẻ có tội! Lạy Thiên Chúa Toàn Năng, con xưng thú các tội lỗi của con”. Chứ chúng ta không nói: “Lạy Chúa xin thương xót cái ông bên cạnh con đây, hay cái bà kia, là những kẻ tội lỗi”. Không. “Xin thương xót con!” Chúng ta tất cả đều là những người tội lỗi và cần sự tha thứ của Chúa. Chính Chúa Thánh Thần nói với thần trí chúng ta, và làm cho chúng ta nhận biết các lỗi lầm của chúng ta dưới ánh sáng lời Chúa Giêsu. Và cũng chính Chúa Giêsu mới gọi chúng ta tất cả, thánh thiện và tội lỗi, đếm bàn tiệc của Ngài, bằng cách quy tụ chúng ta từ mọi ngã tư đường, từ các hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống (x. Mt 22,9-10). Và trong số các điều kiện chung cho các người tham dự buổi cử hành thánh thể, có hai điều nền tảng, hai điều kiện để đi tham dự Thánh Lễ: chúng ta tất cả là người tội lỗi, và Thiên Chúa ban lòng thương xót của Ngài cho tất cả mọi người. Đó là hai điều kiện mở toang cửa cho chung ta vào dự Thánh Lễ cách tốt đẹp. Chúng ta phải luôn nhớ điều ấy trước khi đi sửa lỗi người anh em. Chúng ta hãy xin tất cả những điều này qua sự bầu cử của Đức Trinh Nữ Diễm Phúc Maria, mà ngày mai chúng ta mừng sinh nhật của Mẹ.

Nguồn: archivioradiovaticana.va

Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)

Suy niệm: Việc sửa lỗi đặt nền tảng trên đức ái, nhằm cứu vãn và xây dựng hơn là để trừng phạt. Vì thế, Chúa muốn phương thức phải được sử dụng nhằm đưa tội nhân trở về với Thiên Chúa. Ðó chính là tình yêu đích thực, là sự hiệp thông mà Chúa muốn nơi mỗi người chúng ta.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con biết bao dung với anh chị em khi họ có lỗi với chúng con. Xin cho chúng con biết dùng tình thương để cảm hóa. trong ý thức: mỗi người chúng con đều là tội nhân, xin cho chúng con biết cảm thông và yêu thương như Chúa đã yêu thương chúng con, để giúp anh chị em chúng con sống tốt hơn. Còn khi chúng con trót lỗi lầm, xin cho chúng con can đảm chạy đến với Chúa, đến với anh em để xin ơn tha thứ. Amen.

Ghi nhớ: “Nếu nó nghe ngươi, thì ngươi đã lợi được người anh em”.

Suy niệm (Lm. Inhaxiô Hồ Văn Xuân)

  1. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Ed 33,7-9

  1. Bài đọc 1 hôm nay trích từ sách ngôn sứ Ê-dê-ki-en, chương 33, câu 7 đến câu 9. Trong tiếng Híp-ri, Ê-dê-ki-en có nghĩa là “Thiên Chúa làm cho mạnh sức”. Ông là một tư tế hoạt động tại Giê-ru-sa-lem vào thế kỷ VI trước Công nguyên. Ông là một ngôn sứ được Thiên Chúa gọi để loan báo Lời của Người cho dân Ít-ra-en. Ông là một ngườithị kiến. Bốn thị kiến trong tác phẩm của ông mở ra cho ta thấy một thế giới lạ lùng : bốn con vật ; những việc tế ngẫu tượng ở Đền Thờ ; cánh đồng đầy xương khô đang được hồi sinh ; Đền Thờ tương lai với con suối tuôn chảy nước hằng sống ; thành Tia chìm xuống biển (chương 27) ; Pha-ra-ô – con cá sấu (chương 29) ; cây Khổng lồ (chương 31), Pha-ra-ô xuống âm phủ (chương 32).
  2. Tại sao ông được Chúa đặt làm người canh gác ?

Trong cảnh nước mất nhà tan, ngôn sứ Giê-rê-mi-a có sứ mạng giảng cho dân Ít-ra-en còn lại ở đất Pa-lét-tin biết đường lối của Thiên Chúa, cho họ biết những hình phạt và trách họ đã sống tồi tệ, đã bỏ đường lối của Thiên Chúa. Còn tại đất lưu đày Ba-by-lon, ngôn sứ Ê-dê-ki-en được Thiên Chúa gọi để giữ cho niềm tin vào Thiên Chúa luôn sống động nơi những người Ít-ra-en đang phải sống kiếp lưu đày. Hoàn cảnh của ngôn sứ Ê-dê-ki-en vô cùng tế nhị, vì những người lưu đày không hiểu được ý nghĩa của hoàn cảnh họ đang phải chịu theo kế hoạch của Thiên Chúa như thế nào, tức là họ đang phải chịu phạt vì tội lỗi của họ, nên họ vẫn tiếp tục tôn thờ ngẫu tượng. Họ còn trách Thiên Chúa đã đối xử bất công với họ khi bắt họ phải chịu hình phạt do tội lỗi của những người đi trước (Ed 18,2). Đàng khác họ lại tin chắc rằng thời gian lưu đày sẽ không lâu lắm, và nhất là không lẽ nào Thiên Chúa lại để cho thành Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ–nơi Người ngự–bị quân Can-đê phá huỷ (x. Ed 24,21). Ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã phải đối phó với những quan niệm sai lầm như thế, đã phải tố cáo các tội lỗi như thờ ngẫu tượng, ngoại tình, thề gian thề dối và các tội lỗi công bằng xã hội. Cũng giống như ngôn sứ Giê-rê-mi-a, ngôn sứ Ê-dê-ki-en mạnh mẽ tố cáo thái độ tin tưởng ấu trĩ, cho rằng Đền Thờ Giê-ru-sa-lem là một bảo đảm cho thấy dân Ít-ra-en sẽ tồn tại mãi mãi.

  1. Đức ái đòi buộc chúng ta không chỉ chia sẻ cơm áo cho người đói rách bần cùng, mà còn phải giúp anh chị em của mình sửa sai khi thấy họ có lỗi, nhất là đối với cha mẹ và những người có trách nhiệm trong cộng đoàn, vì Đức Chúa đã phán như sau :“Phần ngươi, hỡi con người, Ta đã đặt ngươi làm người canh gác cho nhà Ít-ra-en. Ngươi sẽ nghe lời từ miệng Ta phán ra, rồi thay Ta báo cho chúng biết. Nếu Ta phán với kẻ gian ác rằng : ‘Hỡi tên gian ác, chắc chắn ngươi phải chết’, mà ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó. Ngược lại, nếu ngươi đã bảo cho kẻ gian ác phải từ bỏ con đường của nó mà trở lại, nhưng nó không trở lại, thì nó sẽ phải chết vì tội của nó ; còn ngươi, ngươi sẽ cứu được mạng sống mình.”Xin anh chị em hãy lắng nghe và thực hành lời Chúa trong cuộc sống thường ngày. “Correctio fraterna” (sửa lỗi trong tình huynh đệ) rất cần thiết, thưa anh chị em !

 

Đáp ca : Tv 94

Thánh vịnh 94 thấm đẫm kinh nghiệm của Ma-xa và Mơ-ri-va. Thánh vịnh hôm nay cho thấy cuộc hành trình đức tin của tất cả chúng ta, đó là vấn đề “tin tưởng”, “tín nhiệm”. Đối với dân Ít-ra-en, vấn đề tín nhiệm được đặt ra mỗi khi họ gặp khó khăn trong sa mạc : “Có Đức Chúa ở giữa chúng ta hay không ?” Hay nói cách khác, ta có thể đặt trọn niềm tin vào Người không ? Hay ta có thể hoàn toàn trông cậy Người hay không ? Có chắc chắn là Người trợ giúp chúng ta khi chúng ta gặp hiểm nguy không ?

Kinh Thánh cho ta biết đức tin là tin tưởng, tín nhiệm. Vấn đề tin tưởng này dựa vào kinh nghiệm. Đối với dân Ít-ra-en, tất cả bắt đầu với cuộc giải thoát khỏi ách nô lệ Ai-cập, và trải qua nhiều khó khăn, Chúa mới giải thoát dân Người khỏi ách nô lê Ai-cập, thì không có lý do gì Người lại để họ chết đói, chết khát giữa sa mạc khô cằn, nắng cháy. Do đó, ta có thể cậy dựa vào Người như dựa vào một tảng đá. “Tung hô Người là núi đá độ trì ta.” Đây là một lời tuyên xưng đức tin. Sau câu chuyện không vui ở Ma-xa và Mơ-ri-va, người ta thường gọi Thiên Chúa là Tảng Đá của Ít-ra-en. Đối với một số người trong chúng ta, vấn đề đức tin được đặt ra mỗi khi chúng ta không tìm được câu trả lời cho những vấn nạn của mình : chấp nhận việc không thể biết tất cả, không thể hiểu tất cả mọi sự, chấp nhận con đường nhiệm mầu của Thiên Chúa đòi hỏi niềm tin nơi chúng ta. Chúng ta chỉ còn có thể nói như thánh Phê-rô khi được Chúa Giê-su hỏi : “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Vì chỉ mình Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68).

Trong cuộc sống đức tin, mỗi ngày chúng ta hãy đọc và suy đi nghĩ lại lời thánh vịnh 94 hôm nay : “Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa ! Người phán : ‘Các ngươi chớ cứng lòng.’”

 

Bài đọc 2 : Rm 13,8-10

Trong bài đọc 2 hôm nay, thánh Phao-lô đề cập đến một vấn đề vô cùng hệ trọng trong đời sống đức tin của mỗi người chúng ta : “Yêu thương là chu toàn Lề Luật.” “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái.” Thưa anh chị em, đức ái là món nợ lớn nhất người tín hữu phải trả cho người khác. Được Thiên Chúa yêu thương, người tín hữu có bổn phận yêu thương anh em mình. Đức ái là dấu hiệu căn bản của Ki-tô giáo : “Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật.” Luật ở đây không phải là Luật Mô-sê mà là Luật của Đức Ki-tô. “Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13,14). “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Lv 19,18). Chúa Giê-su đã tóm tắt mọi luật lệ vào điều răn : mến Chúa thương người. Cả hai có giá trị như nhau (x. Mt 22,37-40). “Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại” : đồng loại ở đây không giới hạn trong huyết tộc, chủng tộc, văn hoá, ngôn ngữ, nhưng bao gồm tất cả mọi người, vì được kết hợp với Đức Ki-tô (x. Gl 3,28 ; Mt 25,40).

Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta đã sống đức ái như thánh Phao-lô đã dạy chưa ?

 

Bài Tin Mừng : Mt 18,15-20 : Sửa lỗi anh em

Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe đề cập đến vấn đề sửa lỗi cho anh em, một vấn đề rất phức tạp và cũng rất tế nhị. Việc sửa lỗi này đặt nền trên đức ái, nhằm cứu vãn và xây dựng hơn là áp dụng kỷ luật. Vì thế, Chúa muốn mọi phương thức phải được sử dụng để đưa người lầm lạc trở về, trước khi đưa vấn đề ra cộng đoàn. Ngay cả khi phải dùng nhân chứng (có ba mặt một lời), thì cũng không phải để tố cáo theo pháp lý, nhưng để những người này góp phần khuyên nhủ theo tình huynh đệ, hầu giúp người mắc tội được cảm thông và can đảm trở về. Cuối cùng, khi phải đưa sự việc ra trước Hội Thánh (cộng đoàn), thì phải hiểu là trước những người có trách nhiệm chính thức. Lẽ dĩ nhiên các vị này cũng phải dùng mọi biện pháp theo tiêu chuẩn đức ái để chinh phục đương sự.

Nếu phải dùng quyền để loại trừ một phần tử bất khả kháng, thì điều này cũng chỉ vì bác ái mà thôi, bác ái đối với đương sự trước tiên, để đương sự biết hồi tâm hối cải, sau đó bác ái đối với các phần tử khác trong cộng đoàn, kẻo có ai theo gương xấu mà phạm tội.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa là Đấng vô cùng thánh thiện, mang lấy thân phận tội lỗi con cháu A-đam, chúng con rất dễ phạm tội mất lòng Chúa. Xin Chúa cho chúng con biết khiêm tốn lắng nghe lời nhắc nhở của những vị có trách nhiệm và sẵn sàng sửa sai, để cuộc sống đức tin của chúng con ngày càng đẹp lòng Chúa hơn.

Tự vấn :

Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta có đủ can đảm để sửa chữa lỗi lầm cho anh em mình không, vì đó là bổn phận đức ái đòi buộc ?

 

  1. BÀI ĐỌC THÊM
  2. Việc sửa lỗi anh em

(Mgr. L. Daloz, “Le Règne des cieux s’est approché”, Desclée de Brouwer).

Đoạn Tin Mừng này đưa ra một tiến trình hoà giải một trường hợp tế nhị trong đời sống các cộng đoàn : “Phải làm gì khi anh em ngươi phạm tội ?” Câu trả lời không dễ … Đức Giê-su nói gì ? Hãy đi tìm nó và trách móc ! Đó không phải là cách hành động. Ta thường cho rằng đó là việc cá nhân của người đó, “vấn đề của nó” và rằng nó có tự do ! Can thiệp, tìm gặp và trách móc, chẳng phải là tôi đã dây vào những việc không có liên hệ đến tôi, xen vào đời tư cá nhân ; không kín đáo, không khoan nhượng, và liều mình gây gổ với anh ta sao ? Ngay trong mối tương quan giữa tín hữu với nhau, ta vẫn thường hành xử như người đời quen làm trong xã hội. Ta không muốn dây vào công việc của người khác, ta né tránh. Dĩ nhiên trước khi can thiệp ta phải kiểm chứng xem có nên trách móc không, làm cách nào cho có kết quả. Hơn nữa xã hội ta đang sống khác với xã hội thời Đức Giê-su. Ta ít cảm thấy liên đới hơn. Tự do cá nhân là một cuộc chinh phục tương đối mới, và tuyên ngôn Nhân quyền là một hiến chương phần lớn dựa trên những tự do cá nhân này. Ta không muốn phá huỷ nó vì người khác và ta cũng không muốn người khác can thiệp vào đời sống, tư cách của ta. Ta khó chịu khi có ai đến cho ta một bài học luân lý ! Còn nữa, thường thường điều mà ta không muốn nói trước mặt người khác, ta lại ít tế nhị khi nói sau lưng họ …

Đức Giê-su đã nêu lên thái độ phải giữ trong cộng đoàn môn đệ của Người. Ta không thể rập khuôn cách làm của ta theo những gì diễn ra chung quanh. Cảm thấy có liên hệ đến những hành vi của anh em, đó là chuyện bình thường. Chính vì thế mà Đức Giê-su nói : “Nếu người anh em của anh trót phạm tội …” Anh em ngươi, đâu phải là người xa lạ, ngươi không thể nói rằng tội lỗi của nó chẳng liên hệ gì tới ngươi. Vì sự sống của anh em ngươi, sự sống vĩnh cửu của anh ta, liên hệ tới ngươi lắm chứ. Khi yêu ai, ta đâu dửng dưng để mặc người ấy lún sâu vào sự dữ. Ta sẽ tìm dịp cảnh tỉnh, giúp đỡ không làm anh ta phật lòng, không la mắng anh. Lời khuyên dạy của Đức Giê-su giả thiết ta phải có mối liên lạc huynh đệ. Phải chăng đó là vấn đề cần đặt ra cho đời sống cộng đoàn chúng ta ? Có tình thân rồi, ta có thể nói với nhau nhiều chuyện, giúp đỡ nhau nhiều việc. Trách móc không có nghĩa là nói nặng lời, hung hăng, dữ tợn. Trái lại, lời khuyên của Đức Giê-su kêu gọi ta hành động với sự tế nhị : “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi.” Sự kín đáo của cuộc vận động tránh đưa tội lỗi ra công khai. Điều này hoàn toàn phù hợp với một mối liên lạc cá nhân, huynh đệ. Và Đức Giê-su nhấn mạnh đến mục đích của cuộc vận động : đó là cứu lấy anh em, chinh phục anh em, để nó đừng hư mất : “Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em.” Đó không phải là lời nói gắt gỏng của thói phê bình chỉ trích, hay đối nghịch. Đó không phải là từ ngữ hạ nhục, là sự dò xét chế tài của kẻ bề trên. Ai tiến hành cuộc vận động ấy cũng phải sẵn sàng đón nhận sự trách móc ngược lại.

 

  1. Mô hình căn bản của mọi cuộc hoà giải trong Giáo Hội

(B. Marliangeas, “Dans vos assemblées”, Desclée de Brouwer).

Trong chương 18 mà ta quen gọi là “diễn từ về cộng đoàn các môn đệ”, là sự miêu tả một tiến trình hoà giải trong Giáo Hội tạo nên, một cách nào đó, mô hình căn bản cho mọi hoà giải trong Giáo Hội.

Đó là một tiến trình bao gồm cả gặp gỡ của cá nhân lẫn vận động của cộng đoàn.

“Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó …” (Mt 18,15). Một cuộc hoà giải thật sự luôn luôn đòi có một tiếp xúc cá nhân bằng cách nào đó. Giáo Hội luôn ý thức về tầm quan trọng của tiếp xúc này. Chính vì thế, ở mọi thời, dù phép cáo giải có mặc hình thức nào đi nữa, vẫn luôn luôn dành chỗ cho một đối thoại cá nhân. Một đối thoại như thế thường rất khó khăn – Chính Đức Giê-su đã có kinh nghiệm đau đớn về điều đó – nhưng không phải vì thế mà bỏ cuộc : “Nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa … Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh …” (Mt 18,16-18). Hãy ghi nhận sự tiệm tiến của những phương thế được sử dụng để thoát ra khỏi tình trạng gãy đổ : đó là phối hợp những cố gắng để nối lại đối thoại, nói lên sự thật và tìm lại được sự hiệp thông.

Chính nhờ cộng đoàn mà quyết định được thi hành, trước mặt cộng đoàn mà sự hoà giải phải được ký kết. Trong trường hợp sự hoà giải thất bại, Tin Mừng nói tiếp : “Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế …”

Rất nhiều nhà bình luận đã chú giải lời nói như kết án, loại trừ này ; nhưng ta có thể hiểu một cách hoàn toàn khác hẳn, dưới ánh sáng của Tin Mừng : vào thời Đức Giê-su, từ ngữ “ngoại đạo” chỉ những người, tuy theo một đạo (thời đó ai mà không có đạo !) nhưng vẫn chưa quay trở về với Thiên Chúa Hằng Sống và Chân Thật ; còn về “những người thu thuế” vào thời chiếm đóng của đế quốc La-mã, họ khép mình trong một hệ thống bất công. Tuy nhiên, trong Tin Mừng ta thấy Đức Giê-su, dù người Do-thái đạo đức lấy làm vấp phạm, vẫn ăn uống với những người thu thuế. Dưới ánh sáng của thái độ của Đức Giê-su, đối xử với ai như “kẻ ngoại đạo và người thu thuế” là một lời mời gọi hãy có thái độ đồng hành với những người, mà vì lý do nào đó, vẫn chưa có đức tin hoặc đóng kín trong sự bất công và không thể tự mình thoát ra. Họ chưa đón nhận được Tin Mừng của một Thiên Chúa “không muốn kẻ tội lỗi phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống” (Ed 18,23).

Chính trong bối cảnh cầu nguyện cộng đoàn mà sự hoà giải có thể được thực hiện.

Điểm cốt yếu trong cuộc vận động không gì khác hơn là ơn tha thứ của Thiên Chúa. Ở đây ta gặp lại lời tuyên bố long trọng : “Thầy bảo thật anh em : Dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy ; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy” (Mt 18,18). Lời nói đó được sử dụng để nói lên uy quyền của thánh Phê-rô là đầu Giáo Hội (Mt 15,19). Nhưng Đức Giê-su nói thêm : “… Thầy còn bảo thật anh em : Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho” (Mt 18,19-20). Đây không đơn thuần là một giải quyết giữa anh em loài người, nhưng là cùng nhau đến trước tình yêu Thiên Chúa, chỉ mình Người mới có quyền tha thứ.

Trong một bối cảnh như thế, người thi hành tác vụ hoà giải phải cư xử không phải như chủ nhân của sự tha thứ nhưng phải như tôi tớ của sự tha thứ của Thiên Chúa, mà chính đương sự là kẻ đầu tiên được thụ hưởng.

Trong lịch sử, mô hình Tin Mừng này có lẽ đã được ứng dụng nhiều cách khác nhau mà chúng ta đã phần nào được thừa kế.

 

Suy niệm (Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)

  1. Phân tích (Hạt giống…)

Chúa Giêsu dạy hai điều về nếp sống cộng đoàn:

  1. Khi có người trong cộng đoàn lỗi phạm, hãy sửa dạy cách kiên nhẫn qua nhiều giai đoạn: gặp riêng, nhờ một ít người nữa cùng mình đi thuyết phục, trình kẻ có thẩm quyền. Khi tất cả mọi cố gắng đều vô ích thì mới kể người đó không là thành phần của cộng đoàn nữa.
  2. Cộng đoàn cần tụ họp cầu nguyện chung với nhau, “vì đâu có hai ba người tụ họp nhân danh Thầy thì Thầy ở giữa những người ấy”.
  3. Suy niệm (…nẩy mầm)
  4. Để mất một phần tử của cộng đoàn là một nỗi đau rất lớn. Bởi đó Chúa Giêsu dạy chúng ta phải kiên nhẫn giúp những phần tử lỗi lầm hoán cải. Nhiều khi cách giải quyết của chúng ta không theo đủ những bước Chúa dạy nên mới đánh mất những người anh chị em.
  5. Chúa dạy những người trong cộng đoàn phải “hiệp lời cầu xin”. Hiệp lời cầu xin là cầu xin chung với nhau, cầu xin những điều chung của cộng đoàn. Chúa nói khi chúng ta hiệp lời cầu xin thì có Chúa ở giữa. Như thế những lúc cầu nguyện chung là những giây phút rất êm đềm hạnh phúc.
  6. Tôi rất vui khi một anh sinh viên đến kể: “Chúa nhựt vừa rồi khi giảng Cha đã bảo thỉnh thoảng nên đọc kinh lần chuỗi chung với nhau. Xưa nay mỗi tối con đọc kinh riêng một mình. Thằng em con thì rất nguội lạnh ít khi đọc. Tối Chúa nhựt ấy con rủ nó cùng con lần chuỗi. Hai anh em chỉ lần có hai chục thôi. Nhưng chúng con thấy rất sốt sắng. Hôm sau chúng con rủ thêm mấy thằng bạn nhà bên cạnh nữa.” Tôi không ngờ một lời khuyên nhỏ như thế mà lại sinh một kết quả to lớn như thế. Nhưng không phải, không phải nhờ lời khuyên của tôi, mà nhờ Thiên Chúa ở giữa những bạn trẻ ấy: “vì đâu có hai ba người tụ họp nhân danh Thầy thì Thầy ở giữa những người ấy”.
  7. Ngày kia một vị Giám mục đến thăm mục vụ một làng nọ. Dân chúng bày tỏ sự bất mãn của họ đối với một vị ẩn sĩ trên núi vì ông hiện đang chung sống với một phụ nữ. Sau khi nghe những lời kết án, vị Giám mục quyết định cùng dân làng leo lên núi. Thấy đám đông đến nơi mình ở, vị ẩn sĩ hoảng sợ bảo người phụ nữ trốn vào một chiếc thùng rỗng. Vị Giám mục là người thứ nhất bước vào trong lều. Ngài đưa mắt nhìn quanh và hiểu ngay sự kiện. Ngài bình thản đến ngồi trên chiếc thùng gỗ ấy và bảo dân làng vào lục soát. Nhưng không tìm thấy ai, dân làng đành ra về. Chờ cho mọi người đi hết, vị Giám mục nhìn sâu vào đôi mắt nhà ẩn sĩ và nói “Hỡi người anh em, hãy cẩn thận giữ linh hồn mình” (“Mỗi ngày một tin vui”)
  8. Đã có bao nhiêu cuộc họp mặt, bao nhiêu khối óc họp lại nhân danh công lý hòa bình, nhân danh quyền lợi tập thể, thậm chí nhân danh Đấng Tạo Hóa, để làm những điều đồi bại.

Nhân danh – đó là mỹ từ vẫn thường bị lạm dụng để che đậy, biện hộ cho các tôi ích kỷ, những ý đồ xấu xa, những mục đích đen tối.

Tôi cũng từng nhân danh Chúa để chỉ trích, lên án người này người kia. Nhân danh công tác nhà thờ để trốn tránh bổn phận và trách nhiệm bản thân.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết nhân danh Chúa để sống trong sự thật, trong yêu thương. Xin cho tất cả những thao tác, nỗ lực và công việc của con chỉ nhằm vinh danh Chúa. (Hosanna)

  1. ”Thầy bảo thật anh em: Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho.” (Mt 18,19)

Tôi không thể ngờ được, người bạn thân nhất của tôi lại có thể hiểu lầm tôi. Thật khó có thể trở lại làm bạn như cũ ! Và tôi cùng nó đến nhà thờ… Vị chủ tế nói: “Chúng ta hãy hiệp lời cầu nguyện cho hai người luôn gắn bó bên nhau…”

Quay qua nó tôi nói:

– Bạn hãy cùng tôi cầu nguyện cho chúng ta và cho mọi người !

Bây giờ tôi và nó càng thắm thiết hơn xưa.

Lạy Cha, xin cho chúng con biết đồng tâm nhất trí với nhau trong kinh nguyện, để Cha chúc phúc và nâng đỡ chúng con hôm nay và mãi mãi. (Hosanna)

  1. “Khi nào hai ba người họp nhau nhân danh Thầy thì có Thầy ở đấy với họ” (Mt 18,20)

George Anderson là tuyên uý trại giam New York’s Riker’s Island. Một đêm, ông đang cầu nguyện với một nhóm tù nhân theo câu chuyện “Người Samaria nhân hậu” thì có một tù nhân bị bệnh thần kinh tên là Richard lần đầu tiên đến tham dự. Căn phòng rất lạnh. Richard quấn 2 chiếc mền. Người bạn tù trước mặt Richard thì run lập cập. Tới lúc mọi người im lặng cầu nguyện thì đột ngột Richard đứng lên bước về phía người đang run, và lấy chiếc mền quấn cho anh ta.

Hành động trong im lặng này của Richard đã làm chứng không chỉ cho những lời Chúa Giêsu dạy chùng ta yêu thương nhau, mà còn cho sự hiện diện của Ngài giữa chúng ta khi chúng ta họp nhau lại trong danh Ngài. (Mark Link, Vision 2000).

 

Suy niệm (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

VIỆC SỬA LỖI TRONG CỘNG ĐOÀN

  1. DẪN NHẬP                                                  +++

    Có ai trong chúng ta dám cho mình là người thập toàn không? Những người có lương tri chắc không ai dám khẳng định như thế, vì đặc tính này chỉ dành riêng cho Thiên Chúa là Đấng thánh thiện tuyệt đối. Ý thức về thân phận thực tế của con người, Elbert Hubbard đã phát biểu rất xác đáng: “Người nào cũng là kẻ chí ngu ít ra trong năm phút mỗi ngày. Bậc thánh hiền là kẻ cố gắng và thành công trong sự không để cái ngu của mình vượt qua thời hạn ấy”. Như vậy, sai lỗi và lầm lỗi là một thực trạng của con người trong xã hội, trong cộng đoàn. Và nếu đã sai lỗi thì cần phải được sửa lỗi để trở nên tốt hơn.

   Thực ra, sửa lỗi cho nhau là một trách nhiệm của mỗi người trong cộng đoàn, chứ không phải là một công việc tùy ý hay chỉ dành cho những ai có thẩm quyền. Bởi vì lỗi lầm của cá nhân ảnh hưởng tai hại đến đời sống chung và gây sứt mẻ tình đoàn kết giữa các thành phần. Hơn nữa, một cộng đoàn không bao giờ gồm toàn những người tốt lành thánh thiện cả, trái lại, vẫn còn những phần tử bất hảo, cố chấp, lầm lạc. Vậy phải đối xử thế nào đối với những người có lỗi?

    Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã nói lên nhu cầu phải sửa lỗi cho nhau theo ba bước: từ sửa lỗi giữa hai người, tới việc cần có 2, 3 người làm chứng, và sau cùng đưa người ấy ra trước mặt Hội thánh. Tuy nhiên, trong bất cứ hoàn cảnh nào, người ta phải giữ tinh thần bác ái huynh đệ, mục đích giúp người có lỗi ý thức về sai lầm của mình mà sửa đổi. Thái độ trong khi sửa lỗi là luôn phải yêu thương, kính trọng và cầu nguyện cho họ.

  1. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+  Bài đọc 1: Ez 33,7-9

    Ezéchiel được chọn làm tiên tri. Vai trò của tiên tri là phải tuyên sấm Lời Chúa. Tiên tri có trách nhiệm mang đến cho loài người sứ điệp của Chúa và để báo cho con người sự nguy hiểm, nếu họ không tuân lệnh Chúa. Nếu tiên tri nói với kẻ gian ác mà nó không nghe, thì nó phải chịu trách nhiệm về tội của nó. Còn nếu tiên tri không chịu vạch tội và kẻ gian ác phải chết, thì tiên tri phải chịu trách nhiệm về cái chết đó. Như vậy, tiên tri được coi như người lính gác phải luôn thức tỉnh, để nhắc nhở kẻ có tội để họ khỏi phải hư đi.

+  Bài đọc 2: Rm 43,8-10

    Thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Rôma nhắc lại lời Chúa Giêsu trả lời cho người biệt phái muốn biết điều răn nào trọng nhất: điều răn thứ nhất và quan trọng nhất là mến Chúa trên hết và điều răn thứ hai cũng giống như vậy là thương yêu anh em như chính mình. Tất cả những giới răn chỉ gồm lại trong một điều: thương yêu người anh em. Thánh Phaolô tóm tắt lại: Yêu thương là chu toàn cả lề luật.

+  Bài Tin mừng: Mt 18,15-20

    Trong bài Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu nói đến mối tương quan giữa mọi người trong cộng đoàn. Một trong những mối tương quan đó là sửa lỗi cho nhau. Khi một người phạm lỗi thì đều liên quan đến cộng đoàn. Vì vậy, với tinh thần anh em trong cộng đoàn ta phải sửa lỗi cho họ trong tinh thần yêu thương và kính trọng. Diễn tiến việc sửa lỗi này là tiệm tiến, phải đi từ kín đáo đến công khai:

  – Riêng ngươi với nó: giữa hai người.

  – Đem theo một hay hai người làm chứng.

  – Kể nó như người ngoại hay thu thuế.

    Tuy nhiên, thánh Mátthêu ghi tiếp sau đoạn này (Mt 18,21-35) là có lỗi giữa hai cá nhân với nhau. Trong trường hợp này thì giải pháp hay nhất là tha thứ.

    Mục đích của việc sửa lỗi này không phải nhằm lên án người có tội mà là thức tỉnh họ, giúp họ trở về với cộng đoàn. Cả hai trường hợp cần có sự cầu nguyện xin Chúa giúp đỡ, nhất là việc cầu nguyện chung trong cộng đoàn.

 

  1. THỰC HÀNH LỜI CHÚA:Hãy sửa lỗi cho nhau
  2. MỌI NGƯỜI ĐỀU SAI LỖI
  3. Lời khẳng định

    Người ta thường nói: “Nhân vô thập toàn”: Không ai dám bảo mình là không có lỗi, không có những sai phạm trong đời sống thường ngày. Thánh nhân cũng phải nhận là người có lỗi. Chính vì vậy mà ông Elbert Hubbard đã nói: “Người nào cũng là kẻ chí ngu ít ra trong năm phút mỗi ngày. Bậc thánh nhân là kẻ cố gắng và thành công trong sự không để cái ngu của mình vượt qua thời hạn ấy”.

    Thánh Gioan tông đồ khẳng định: “Ai nói mình không có tội, đó là kẻ nói dối và sự thật không ở trong họ” (Ga 1Ga 1,10). Thánh Phaolô tông đồ cũng nói tương tự: “Tôi ăn ở như một người ngu, còn sự lầm lạc của tôi thì vô kể” (Ep 4,11).

  1. Từ chối nhận lỗi

    Tuy biết mình có nhiều lỗi lầm nhưng không mấy khi thành thật nhận lỗi, bởi vì tính tự ái dâng cao khiến người ta chối bỏ lầm lỗi của mình, nhất là khi người ta nhắc đến những lỗi lầm ấy. Đây chính là chứng bệnh gia truyền, từ đời Nguyên tổ. Ông bà Nguyên tổ đã phản bội Chúa. Nhưng khi Ngài ngự đến hỏi ông, thì ông nói:

  – Lỗi là do bà ấy.

    Hỏi bà, bà nói:

  – Lỗi là do con rắn ấy.

    Ông cũng như bà, bà cũng như ông, không ai chịu nhận trách nhiệm cả.

    Phải chi ngay lúc bấy giờ, hai ông bà biết uốn đầu gối xuống đất, có lẽ Thiên Chúa chưa hất đổ vườn địa đàng đi và nhân loại sẽ được thoát cảnh lầm than điêu đứng!

                                                Truyện: Không nhận lỗi

    Dale Carnegie nổi tiếng về những sách học làm người, đã viết: “Tôi đã phải phấn đấu gần một phần ba thế kỷ mới thấy được ánh sáng chân lý này: dù người ta có lỗi nặng đến đâuthì trong 100 lần tới 99 lần người ta tự cho mình là vô tội”.

    Ông đã kể trường hợp về ba tên đầu đảng bọn cướp nổi tiếng nhất nước Mỹ: Crowley, Capone và Schultz:

    Crowley giết người như ngóe mà vẫn nói: “Dưới lớp áo này, trái tim ta đập chán ngán, nhưng thương người không muốn làm hại ai”.

    Capone đã tự tuyên bố: “Ta dùng những năm tươi đẹp nhất trong đời để mua vui cho thiên hạ. Vậy mà phần thưởng chỉ là bị chửi, bị săn bắt như thú dữ”.

    Schultz đã tự mãn khoe mình với ký giả: “Ta là ân nhân của thiên hạ” (Dale Carnegie, Đắc nhân tâm, tr 33-3).

  1. NHU CẦU PHẢI SỬA LỖI

    Trước hết sự sửa lỗi cho nhau là một trách nhiệm của mỗi người trong cộng đoàn, chứ không phải là công việc tùy ý hay chỉ dành cho những ai có thẩm quyền. Bởi vì lầm lỗi của cá nhân ảnh hưởng tai hại đến đời sống chung và gây sứt mẻ tình đoàn kết liên đới giữa các thành phần. Hơn nữa, một cộng đoàn không bao giờ gồm toàn những người tốt lành thánh thiện cả, trái lại vẫn còn những phần tử bất hảo cố chấp, lầm lạc.

    Trong cách sửa lỗi người ta hay nói: “Yêu con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùi” (Tục ngữ). Chúng ta nghĩ thế nào trong việc sửa lỗi theo câu tục ngữ này?

 * Cho roi: nghĩa là dùng hình phạt theo pháp luật.

    Trước những lỗi phạm, những tội ác, có nhiều hình phạt khác nhau như: phạt tiền, phạt lao động, cải tạo, khổ sai, bắt tù, tra tấn, tịch thu của cải, lưu đày biệt xứ hoặc tử hình như pháp luật vẫn làm.

  * Cho ngọt: nghĩa là dùng những biện pháp êm nhẹ, dụ dỗ, dẫn bảo, khen thưởng, ca tụng ngọt ngào hay nuông chiều buông thả như chủ trương của nhà giáo dục người Pháp, ông Jean Jacques Rousseau.

    Cả hai cách giáo dục đó: một đàng thái quá vì hạ nhục phẩm giá con người, một đàng bất cập vì buông xuôi theo khả năng dục vọng biến thành thứ vô giáo dục và nguy hơn nữa tăng bốc tính kiêu ngạo (Lm. Vũ Khắc Nghiêm, Xây nhà trên đá, năm A, tr 154-155)

    Việc sửa lỗi cho anh em là cần thiết nhưng lại là một vấn đề rất khó khăn và tế nhị:

  – Tế nhị về phía người được sửa lỗi.

  – Khó khăn về phía người sửa lỗi, muốn giúp người khác nên hoàn thiện.

    Người ta thường nói: “Thuốc đắng dã tật, lời thật mất lòng” (Tục ngữ). Không ai muốn người khác nhắc đến lỗi lầm của mình, nhưng dù sao cũng phải uống thuốc đắng cho đã tật, cho mình biết sửa lỗi lầm của mình. Kinh nghiệm cho hay: người đứng ra sửa lỗi rất ngại ngùng, một đàng vì người có lỗi không muốn nghe, một đàng chính người sửa lỗi người khác cũng cảm thấy e ngại, vì nhớ đến lời Chúa phán: “Hãy lấy cái đà ra khỏi mắt anh đã”.

    Nhưng dù sao, Lời Chúa hôm nay xác định cách rõ ràng: sửa lỗi anh em là hành vi tích cực của đức bác ái, vì sửa lỗi anh em là để cho anh em được nên hoàn thiện hơn. Đối với người có trách nhiệm hay bề trên, thì sửa lỗi bề dưới còn là một điều cần thiết và là bổn phận nữa.

    Chúa khuyên chúng ta phải sửa lỗi cho nhau, vì đó là điều cần thiết cho đời sống cộng đoàn, nhưng chúng ta phải đề phòng, tránh thái quá cũng như bất cập. Trong việc sửa lỗi đó, chúng ta có hai thái độ trái ngược nhau:

 * Giây mình vào hết mọi công việc của người khác, tự phong mình làm cảnh sát, kiểm soát mọi công việc của người ta, làm cho người ta mất tự do.

 * Không quan tâm đến ai cả, một mình mình biết, một mình mình hay, sống chết mặc bay. Đây là thái độ lãnh đạm đối với mọi người, thái độ này cũng hàm chứa tính ích kỷ.

III. PHẢI SỬA LỖI NHƯ THẾ NÀO?

    Theo bài Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu muốn việc sửa lỗi anh em phải trở thành một cuộc vận động tiệm tiến gồm có ba bước:

 * Bước 1Giữa ngươi với nó (Mt 18,15). Bước một là nói chuyện riêng, kín đáo giữa một người anh em với một người anh em, mà anh có quyền mong đợi sự giúp đỡ ngược lại trong trường hợp chính anh ta lầm lỗi. Đó không phải là hạ nhục người tội lỗi, nhưng là giúp anh nhìn ra lỗi lầm.

    Một cuộc hòa giải thực sự luôn luôn đòi có một tiếp xúc cá nhân bằng cách nào đó. Giáo hội luôn ý thức về tầm quan trọng của tiếp xúc này. Chính vì thế, ở mọi thời, dù phép cáo giải có mặc hình thức nào đi nữa, vẫn luôn luôn dành chỗ cho một đối thoại cá nhân.

 * Bước 2: Nếu bước 1 không đem lại kết quả mong đợi, sẽ sang bước 2. Trong bước 2 này sẽ có 2 hoặc 3 nhân chứng, theo đề nghị của sách Đệ nhị luật (St 19,1) như đã được thực hành, dưới sự chứng giám của Phaolô, trong cộng đoàn tín hữu tại Côrintô (2Cr 13,1).

    Sự hiện diện của các nhân chứng bảo đảm cho tính khách quan, đồng thời đưa vào đó một yếu tố cộng đoàn, dù luôn luôn kín đáo.

 * Bước 3: Nếu vẫn không có kết quả, ta còn một phương thế cuối cùng: đưa ra trước Giáo hội: trình bầy sự việc trước cộng đoàn Giáo hội.

    Nếu tội nhân từ chối nghe Giáo hội, thì, theo như bài Tin mừng, “Ta hãy coi họ như người ngoại và người thu thuế”. Một công thức dứt khoát không phải là một khinh miệt hoặc kết án: Đức Giêsu đã trở nên “bạn bè với những người thu thuế” kia mà. Công thức ấy chỉ tuyên bố rằng: người tội lỗi tự loại mình ra khỏi cộng đoàn và Giáo hội chỉ chứng nhận sự tách lìa này, và sẵn sàng đón nhận lại người mà một ngày nào đó, hy vọng thế, sẽ được ơn thánh thay đổi, giải phóng (Fiches dominicales, năm A, tr 281-282).

  1. THÁI ĐỘ KHI SỬA LỖI

    Ông Henry Ford nói: “Đừng chỉ lo tìm lỗi lầm nhưng hãy tìm cách chữa trị”. Nói cách khác, sửa lỗi là một việc rất tế nhị và rất khó, làm sao cho người được sửa lỗi dễ dàng đón nhận sự sửa lỗi ấy? Chúng ta tạm đưa ra ba thái độ căn bản này:

  1. Yêu thương

    Hãy bày tỏ lòng thương yêu họ. Hãy nghĩ rằng đây là một cách giúp đỡ anh em nên tốt hơn: đừng lên án, chỉ trích gay gắt, nhưng luôn tế nhị, dịu dàng. Tán dương ưu điểm của họ, và cho họ thấy việc sửa đổi lỗi lầm cũng dễ dàng thôi.

Truyện: Đức Giám mục đi kinh lý

    Trong quyển sách về truyền thống của các vị ẩn tu có thuật lại câu chuyện sau đây: Một hôm, khi Đức Giám mục A-mo-la đến thăm mục vụ một làng nọ, dân chúng đã bày tỏ với ngài lòng bất mãn tột độ của họ đối với một vị ẩn tu trên núi, vì ông ta đem theo một phụ nữ để chung sống. Vị ẩn tu này đã không ngớt là đối tượng để dân làng đàm tiếu, chỉ trích và lên án: “Hôm nay ngài đã đến đây thì ngài phải giải quyết dứt khoát tình trạng bê bối này gây nhiều gương xấu của vị ẩn sĩ trên núi kia”. Sau khi nghe những lời kết án gay gắt của dân làng, Đức Giám mục quyết định leo lên núi. Ngài đi đầu, dân làng lũ lượt theo sau. Vị ẩn tu thấy đám đông kéo đến túp lều của mình thì hoảng sợ và bảo người phụ nữ chui vào trốn trong một chiếc thùng rỗng.

    Đức Giám mục là người đầu tiên đến túp lều và cũng là người đầu tiên bước chân vào. Ngài đưa mắt nhìn chung quanh và hiểu ngay tình hình. Ngài ung dung đi thẳng đến chiếc thùng gỗ và ngồi trên đó để nghỉ chân, rồi bình thản gọi dân làng vào và bảo: “Vào đây, anh chị em hãy vào và lục soát túp lều để tìm người phụ nữ”. Họ lăng xăng lục lọi, nhưng không tìm đâu ra bóng dáng người đàn bà. Khi ấy, Đức Giám mục mới nói: “Bây giờ anh chị em phải quỳ xuống xin lỗi Thiên Chúa, vì đã nói xấu vị ẩn tu này vô cớ”. Nhưng sau đó, khi mọi người đã kéo nhau xuống núi, Đức Giám mục tiến lại gần vị ẩn tu, nắm chặt hai bàn tay của ông, đưa mắt nhân từ nhưng cương nghị nhìn sâu vào đôi mắt của ông và chậm rãi nói: “Hỡi người anh em, hãy cẩn thận giữ mình kẻo mất linh hồn đấy”.

  1. Kính trọng

    Hãy kính trọng cách chân tình, luôn giữ thể diện cho họ, đừng chà đạp lòng tự ái của họ. Vì chính chúng ta cũng không hoàn hảo, cũng tội lỗi yếu đuối như bao người khác, nên khiêm tốn nhận mình cũng lỗi lầm. Hãy đặt câu hỏi cho họ, và kiên nhẫn lắng nghe, khích lệ họ sửa lỗi. Người đời xưa có những cách sửa lỗi rất tế nhị và sâu sắc.

                                                Truyện: Án Tử căn ngăn vua

    Vua Cảnh Công nước Tề, có một con ngựa quí, giao cho một người chăn nuôi. Con ngựa tự nhiên một hôm lăn ra chết. Vua giận lắm, cho là giết ngựa, sai quân cầm dao để phanh thây người nuôi ngựa. Án Tử ngồi chầu, thấy thế ngăn lại, hỏi nhà vua:

  – Vua Nghiêu, vua Thuấn xưa phanh người thì bắt đầu từ đâu trước?

    Cảnh Công ngơ ngác nhìn nói:

  – Thôi hãy buông ra, đem giam xuống ngục để rồi trị tội.

    Án Tử nói rằng:

  – Tên phạm này chưa biết rõ tội mà phải chịu chết, thì vẫn tưởng là oan. Tôi xin vì vua kể rõ tội nó, rồi hãy bỏ ngục.

    Vua nói:

  – Phải.

    Án Tử kể tội rằng: “Nhà ngươi có ba tội đáng chết. Vua sai nuôi ngựa mà để ngựa chết là tội đáng chết. Lại để chết con ngựa rất quí của vua, là hai tội đáng chết. Để vua mang tiếng, vì một con ngựa mà giết chết một mạng người, làm cho trăm họ nghe thấy ai cũng oán vua, các nước nghe thấy ai cũng khinh vua, ngươi làm chết một con ngựa, mà để đến nỗi dân gian đem lòng oán giận, nước ngoài có bụng dòm ngó (ngấp nghé xem nguời ta hở cơ là làm hại), là ba tội đáng chết, ngươi đã biết chưa? Bây giờ hãy tạm giam ngươi vào ngục…”.

    Cảnh Công nghe nói ngậm ngùi than rằng:

  – Thôi, tha cho nó! Kẻo để ta mang tiếng bất nhân (Ng. Văn Ngọc, Cổ học tinh hoa, tập 1, tr 28-29).

  1. Cầu nguyện

    Lời cầu nguyện của riêng một người đã là tốt rồi, song lời cầu nguyện của hai người hay nhiều người chung lại càng tốt và hiệu nghiệm hơn vì họ cùng hiệp lời cầu xin.

    Tụ họp nhân danh Chúa không phải là tụ họp theo ý riêng mình, hoặc tụ họp theo tinh thần thế tục. Nhưng tụ họp theo tinh thần khiêm tốn như trẻ nhỏ (Mt 18,4-5) tự nhận biết mình hèn yếu và đặt niềm tin cậy nơi Chúa. Không phải tụ họp thành những cộng đoàn biệt lập, nhưng là trong sự hiệp thông với Giáo hội. Giáo hội là cộng đồng cầu nguyện. Nếu tội lỗi làm chia rẽ thì sự cầu nguyện nối kết và hiệp nhất chúng ta lại với nhau. Vì thế, cả những lúc có sự bất bình không đồng ý kiến, nếu có “hai ba người tụ họp với nhau nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa những người ấy”. Chúa ở đó như gạch nối niềm tin.

    Không phải chỉ khi cầu nguyện, mà cả những khi họp mặt nhân danh Chúa thì Chúa cũng hứa sẽ hiện diện để khuyến khích sự hoà giải giữa anh em trong cộng đồng Giáo hội. Ở đây muốn nhấn mạnh về khuyến khích mọi cố gắng sửa lỗi và hoà giải giữa anh em trong lòng Giáo hội. Vì được như vậy thì chắc chắn Chúa sẽ hiện diện để giúp đỡ.

    Lạy Chúa, biết nhìn nhận mình sai là một điều rất khó, nhất là nhìn nhận với lòng thành thật, không tìm cách chữa mình, không tìm cách để vứt đi trách nhiệm của việc đã làm, cũng không tìm cách để đổ lỗi cho người này người khác, cũng không vịn lẽ để chứng minh cho kẻ khác rằng: sự vật đã sai lệch và thế gian được dựng nên cách không đàng hoàng.

    Ôi! Lạy Chúa, xin chữa chúng con khỏi run sợ khi phạm lỗi, dẫu lỗi ấy do hiểu lầm, tính sai, hoặc do yếu đuối cũng vậy.

    Để thực hành điều ấy, con cần phải sống nên người mạnh mẽ, chứ không như một thằng bé mặt mày úp mở trong một sự sợ hãi nữa (L. Terphagnon).

 

Suy niệm (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.)

Mt 18,15-20
NGƯỜI ANH EM CỦA ANH

 

Sống với nhau trong cộng đoàn Hội Thánh

thế nào cũng có chuyện này chuyện kia xảy ra.

Có những đụng chạm nhỏ có thể bỏ qua dễ dàng.

Đức Giêsu đòi Phêrô phải tha đến bảy mươi lần bảy (Mt 18,22).

Nhưng cũng có những lỗi, những tội gây tai hại rất lớn

cho một cá nhân, và từ đó ảnh hưởng xấu đến cả cộng đoàn.

Khi đó Đức Giêsu không khuyên các kitô hữu sống dĩ hòa vi quý,

cố chịu đựng cho qua, coi như không có chuyện gì.

Ngài khuyên chúng ta nên thẳng thắn góp ý xây dựng,

chẳng những vì lợi ích của người bị hại, và của cộng đoàn,

mà còn vì lợi ích của chính người phạm tội nữa.

 

Chúng ta không có quyền để cho người anh em của mình đi lạc.

Bỏ chín mươi chín con chiên để tìm con chiên lạc và đưa nó về:

đó là bổn phận của người mục tử, và của cả chúng ta (Mt 18,12).

Đức Chúa đã long trọng phán với ngôn sứ Êdêkien:

“Nếu ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ bỏ đường xấu,

…Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó” (Ed 33,8).

Chúa Cha không muốn cho ai trong cộng đoàn phải hư mất.

Ngài quý từng con người, dù đó là một người bé mọn (Mt 18,14).

Như thế sửa lỗi cho người anh em là cùng làm việc với Thiên Chúa,

để giữ lại người anh em này cho cộng đoàn.

Sửa lỗi chỉ để thể hiện một điều, đó là tình yêu.

Tình yêu huynh đệ phải chi phối toàn bộ tiến trình sửa lỗi.

 

Câu đầu tiên của đoạn Tin Mừng này dùng từ “anh em” hai lần.

Điều đó cho thấy người phạm tội nặng vẫn là anh em của tôi.

Đó không phải là kẻ thù, nhưng là người tôi không muốn mất.

Chính vì thế tôi phải kiên nhẫn bước vào một hành trình,

để giúp người anh em nhận lỗi, hoán cải và trở về nẻo chính.

Tôi phải đi nhiều bước trong hành trình này.

Từng bước một, bước nọ sau bước kia,

không vội vã dùng ngay những biện pháp mạnh mẽ.

Luôn luôn đợi chờ, luôn luôn hy vọng.

Luôn tạo cơ hội để có những cuộc gặp gỡ thân tình

và nâng niu những điểm sáng mong manh.

“Không bẻ gãy cây lau bị giập; không dập tắt tim đèn leo lét.”

 

Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu mời chúng ta đi ba bước.

Bước một là gặp gỡ riêng tư với người anh em phạm lỗi.

Sự kín đáo cho thấy danh dự của người này được tôn trọng.

Nếu không thành công, ta mới qua bước hai.

Cuộc gặp gỡ lần này đông hơn vì có thêm một hai người nữa.

Hy vọng người phạm lỗi gặp được cái nhìn khách quan hơn.

Nhưng nếu người ấy vẫn khăng khăng không nghe,

lúc đó mới đưa ra trước cả cộng đoàn Hội Thánh địa phương.

Từ chối lắng nghe tiếng nói của Hội Thánh

là tự tách lìa, không còn coi mình thuộc về cộng đoàn nữa.

Lúc đó cộng đoàn sẽ coi người ấy như người ngoài, như dân ngoại.

 

Cộng đoàn Hội Thánh chẳng hề muốn mất một người anh em,

nhưng nếu người ấy cứ không nghe thì đành phải chịu (cc. 16.17).

Không nghe là khép lại với con người, cũng là khép lại với Thiên Chúa.

Bởi đó quyết định cầm buộc của Hội Thánh dưới đất

cũng là quyết định của Thiên Chúa trên trời (Mt 18,18).

Chỉ mong Hội Thánh làm mọi quyết định trong bầu khí cầu nguyện,

bình tâm phân định để tìm ý Chúa với rất nhiều tình yêu (Mt 18,20).

 

CẦU NGUYỆN

 

Lạy Chúa Giêsu,

xin thương nhìn đến Hội Thánh

là đàn chiên của Chúa.

Xin ban cho Hội Thánh

sự hiệp nhất và yêu thương,

để làm chứng cho Chúa

giữa một thế giới đầy chia rẽ.

 

Xin cho Hội Thánh

không ngừng lớn lên như hạt lúa.

Xin đừng để khó khăn làm chúng con chùn bước,

đừng để dễ dãi làm chúng con ngủ quên.

Ước gì Hội Thánh trở nên men

được vùi sâu trong khối bột loài người

để bột được dậy lên và trở nên tấm bánh.

Ước gì Hội Thánh thành cây to bóng rợp

để chim trời muôn phương rue nhau đến làm tổ.

Xin cho Hội Thánh

trở nên bàn tiệc của mọi dân nước,

nơi mọi người được hưởng niềm vui và tự do.

 

Cuối cùng xin cho chúng con

biết xây dựng một Hội Thánh tuyệt vời,

nhưng vẫn chấp nhận cỏ lùng trong Hội Thánh.

 

Ước gì khi thấy Hội Thánh ở trần gian,

nhân loại nhận ra Nước Trời ở gần bên. Amen.

 

Suy niệm (Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)

Câu chuyện

Nhân gian có câu: “Nhân vô thập toàn”, nghĩa là con người không có ai hoàn hảo. Trong kiếp nhân sinh, ai cũng có những thiếu sót và lầm lỗi, mà tôi và bạn đã có những kinh nghiệm từ chính bản thân mình trong cuộc sống. Nhưng mỗi người theo thánh ý của Chúa Giêsu, được mời gọi vượt lên trên, chữa lành những khiếm khuyết, bất toàn, lầm lỗi để trở “nên hoàn thiện, như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48). Vì thế, mỗi người phải luôn sửa lỗi và cần được sửa lỗi.

Suy niệm

Chúa Giêsu trong Tin Mừng (Mt 18,15-17) dạy cho chúng ta bài học sửa trị trong tình huynh đệ xuất phát từ đức ái tuyệt hảo mà Đức Chúa Giêsu đã dạy: “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mc 12,31).

Việc sửa lỗi cho nhau dựa trên tình yêu và lời của Chúa: “Anh em phải tha thứ cho nhau đến bảy mươi lần bảy”, nghĩa là cảm thông mãi mãi và tha thứ không ngừng…

 Chúa Giêsu đã đưa ra tiến trình sư phạm tiệm tiến:

  • Một mình với người anh em có lỗi: “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi”. Tế nhị kín đáo, gìn giữ danh dự cho anh em là bổn phận của đức ái Kitô.
  • Nhưng nếu sự tế nhị của ta dành cho anh em bị khinh thường, chúng ta dùng biện pháp mạnh hơn bằng việc nhờ sự đóng góp, sửa chữa nơi những anh em khác có uy tín như Chúa Giêsu đã nhấn mạnh: “Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân”. Nếu lòng nhân ái của chúng ta một lần nữa bị chà đạp, thì chúng ta nại đến Giáo hội can thiệp: “Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh”.
  • Nhưng nếu tất cả biện pháp đều thất bại thì: “Không nên lấy của thánh mà đem cho chó” hoặc “đem ngọc ném cho heo giẫm lên” (Mt 7,6), do sự cố chấp không muốn trở về chính lộ của người lỗi lầm. Đức Giêsu dứt khoát khép lại lộ trình sửa chữa: “Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế”, vì họ tự cắt đứt nguồn tình yêu bao dung đến từ Thiên Chúa qua anh em, tự tách mình ra khỏi cộng đoàn yêu thương, cộng đoàn tiến về sự hoàn thiện như Cha trên trời.

Tiến trình sửa sai huynh đệ mang tinh thần bao dung thương xót của tình yêu, nhưng công minh, thẳng thắn với kẻ cố chấp từ chối lòng nhân ái, bao dung của anh em. Trước bài học sửa sai huynh đệ mà Chúa dạy, chúng ta cùng rút tỉa cho cuộc sống mình:

  • Trong tư cách là người phạm lỗi: “Đừng nói: Tôi tự nhiên như vậy. Sửa sao được”, đó là những khuyết điểm con phải “nên người”, “nên con Chúa”. Những tính ấy bất xứng với con” (ĐHY FX. Nguyễn Văn Thuận, Đường Hy Vọng). Chân thành đón nhận và sửa chữa theo những chỉ bảo của anh em, của các vị trách nhiệm cộng đoàn để sự khiếm khuyết của mình được lấp đầy bằng tình yêu của Thiên Chúa qua anh em. Nếu không đón nhận sự chân thành sửa chữa từ anh em, chúng ta sẽ đối diện với cái họa: Họa vì chối bỏ tình thương của Thiên Chúa, họa do mình tự tách biệt, cách đứt nguồn suối ân sủng trong Giáo hội.
  • Trong bổn phận trách nhiệm giúp anh em sửa lỗi, tôi và bạn luôn mang tình yêu, mặc lấy lòng bao dung, đó là tiếng nói cảnh tỉnh giúp người anh em nhận ra lầm lỗi để sửa chữa, đó là nâng đỡ tình bác ái: “cuộc sống huynh đệ thử thách và nâng đỡ tình bác ái, cây trên rừng che đỡ nhau lúc gió bão” (Đường Hy Vọng).

Lạy Chúa, xin cho con luôn biết mở lòng trước những lời chỉ dạy của anh em… Xin cho con được lòng đầy bao dung yêu thương, cất tiếng nói chân lý để bổ khuyết những thiếu sót, sửa chữa những lầm lỗi trong tha nhân.

Ý lực sống

“Anh em hãy mặc lấy áo của sự thành thật, thông cảm, nhân hậu… khiêm nhượng, hiền lành, kiên nhẫn. Chịu đựng lẫn nhau, tha thứ cho nhau… Trên hết mọi sự, anh em hãy mặc lấy tình yêu” (Cl 3,12-14).