Chúa nhật 21 Thường niên năm A (Mt 16,13-20)

Chúa nhật 21 Thường niên năm A (Mt 16,13-20)

“Trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy,
và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.” (Mt 16,18)

BÀI ĐỌC I: Is 22, 19-23

“Ta sẽ để chìa khoá nhà Đavít trên vai nó”.

Trích sách Tiên tri Isaia.

Đây Chúa phán cùng Sobna, quan cai đền thờ rằng: “Ta sẽ trục xuất ngươi ra khỏi địa vị ngươi, và Ta sẽ cách chức ngươi; trong ngày đó, Ta sẽ gọi đầy tớ Ta là Êliaqim, con trai Helcia. Ta sẽ lấy áo choàng của ngươi mà mặc cho nó, lấy đai lưng của ngươi mà thắt cho nó, sẽ trao quyền ngươi vào tay nó, nó sẽ nên như cha các người cư ngụ ở Giêrusalem và nhà Giuđa. Ta sẽ để chìa khoá nhà Đavít trên vai nó: nó sẽ mở cửa và không ai đóng lại được; nó đóng cửa lại và không ai mở ra được. Ta sẽ đóng nó vào nơi kiên cố như đóng đinh, và nó sẽ trở nên ngai vinh quang nhà cha nó”.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 137, 1-2a. 2bc-3. 6 và 8bc

Đáp: Lạy Chúa, lòng nhân hậu Chúa tồn tại muôn đời, xin đừng bỏ rơi công cuộc tay Chúa (8).

Xướng:

1) Lạy Chúa, con sẽ ca tụng Chúa hết lòng, vì Chúa đã nghe lời miệng con xin; trước mặt các thiên thần, con đàn ca mừng Chúa; con sấp mình thờ lạy bên thánh điện Ngài. – Đáp.

2) Và con sẽ ca tụng uy danh Chúa, vì lòng nhân hậu và trung thành của Chúa. Khi con kêu cầu, Chúa đã nhậm lời con, Chúa đã ban cho tâm hồn con nhiều sức mạnh. – Đáp.

3) Quả thực Chúa cao cả và thường nhìn kẻ khiêm cung, còn người kiêu ngạo thì Ngài ngó tự đàng xa. Lạy Chúa, lòng nhân hậu Chúa tồn tại muôn đời; xin đừng bỏ rơi công cuộc tay Chúa. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Rm 11, 33-36

“Mọi sự đều do Người, nhờ Người và trong Người”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Ôi thẳm sâu thay sự giàu có, thượng trí và thông biết của Thiên Chúa: sự phán quyết của Người làm sao hiểu được, và đường lối của Người làm sao dò được! Vì chưng, nào ai biết được ý Chúa ? Hoặc ai đã làm cố vấn cho Người ? Hay ai đã cho Người trước để Người sẽ trả lại sau ? Vì mọi sự đều do Người, nhờ Người và trong Người: nguyện Người được vinh quang đến muôn đời. Amen.

Đó là lời Chúa.

Tin mừng: Mt 16, 13-20

13 Một hôm, khi Đức Giê-su đến miền Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai ?” 14 Các ông thưa: “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.” 15 Đức Giê-su lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?” 16 Ông Si-môn Phê-rô thưa: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 17 Đức Giê-su nói với ông: “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. 18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. 19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” 20 Rồi Người cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô.

Bài giảng của linh mục Ignatio Hồ Văn Xuân

GIÁO LÝ CHO BÀI GIẢNG CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN NĂM A

WHĐ (26/8/2023) – Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh thánh của lễ Chúa nhật 21 Thường niên năm A theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích.
 

Số 551-553: Chìa Khóa Nước Trời

Số 880-887: Nền tảng của sự hiệp nhất: giám mục đoàn với vị đứng đầu, người kế vị thánh Phêrô

Bài Ðọc I: Is 22, 19-23

Bài Ðọc II: Rm 11, 33-36

Phúc Âm: Mt 16, 13-20

Số 551-553: Chìa Khóa Nước Trời

551.Chúa Giêsu, khi khởi đầu đời sống công khai của Người, đã chọn Nhóm Mười Hai người đàn ông để các ông ở với Người và tham dự vào sứ vụ của Người [1] . Người cho các ông tham dự vào quyền hành của Người và “sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân” (Lc 9,2). Các ông được liên kết vĩnh viễn với Nước của Đức Kitô, bởi vì Người sẽ dùng các ông mà điều khiển Hội Thánh:

“Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự toà xét xử mười hai chi tộc Israel” (Lc 22,29-30).

552. Trong nhóm Mười Hai, ông Simon Phêrô giữ địa vị thứ nhất [2] ; Chúa Giêsu ủy thác cho ông một sứ vụ độc đáo. Nhờ Chúa Cha mạc khải, ông Phêrô tuyên xưng “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Lúc đó Chúa chúng ta liền tuyên bố với ông: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên Tảng Đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt l6,l8). Đức Kitô, “Viên đá sống động” [3] , bảo đảm rằng Hội Thánh mà Người xây dựng trên Tảng Đá Phêrô sẽ chiến thắng quyền lực tử thần. Nhờ đức tin ông đã tuyên xưng, ông Phêrô sẽ mãi là Tảng Đá kiên vững của Hội Thánh. Ông có sứ vụ gìn giữ đức tin được toàn vẹn và làm cho các anh em mình nên vững mạnh trong đức tin [4] .

553. Chúa Giêsu ủy thác cho ông Phêrô một thẩm quyền đặc biệt: “Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời; dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16,19). “Quyền chìa khoá” là quyền cai quản Nhà của Thiên Chúa, tức là Hội Thánh. Chúa Giêsu, “Mục Tử nhân lành” (Ga 10,11) xác nhận nhiệm vụ đó sau khi Người phục sinh: “Hãy chăn dắt chiên của Thầy” (Ga 21,15-17). Quyền “cầm buộc và tháo cởi” có nghĩa là quyền tha tội, quyền đưa ra những phán quyết về giáo lý và những quyết định về kỷ luật trong Hội Thánh. Chúa Giêsu ủy thác quyền này cho Hội Thánh qua thừa tác vụ của các Tông Đồ [5] , và đặc biệt của ông Phêrô, người duy nhất Chúa minh nhiên trao phó chìa khóa Nước Trời.

Số 880-887: Nền tảng của sự hiệp nhất: giám mục đoàn với vị đứng đầu, người kế vị thánh Phêrô

880. “Đức Kitô, khi thành lập nhóm Mười Hai, đã thiết lập các ông theo cách thức một tập thể, một nhóm bền vững; Người đã đặt ông Phêrô, được chọn trong số họ, đứng đầu tập thể đó” [6] . “Cũng như do Chúa thiết lập, thánh Phêrô và các Tông Đồ khác lập thành một Tông Đồ Đoàn, thì Giám mục Rôma, vị kế nhiệm thánh Phêrô và các Giám mục, những người kế nhiệm các Tông Đồ, cũng được kết hợp với nhau như vậy” [7] .

881. Chúa đã đặt một mình ông Simon, mà Người đặt tên là Phêrô, làm đá tảng của Hội Thánh Người. Người đã trao cho ông các chìa khóa của Hội Thánh [8] ; và đặt ông làm mục tử của toàn thể đoàn chiên [9] . “Tuy nhiên, nhiệm vụ tháo gỡ và cầm buộc, đã được ban cho ông Phêrô, rõ ràng cũng đã được trao ban cho Tông Đồ đoàn, hợp nhất với đầu của mình” [10] . Nhiệm vụ mục tử này của thánh Phêrô và của các Tông Đồ khác thuộc về nền móng của Hội Thánh. Nhiệm vụ đó được tiếp tục bởi các Giám mục dưới quyền tối thượng của Giám mục Rôma.

882. Đức Giáo Hoàng, là Giám mục Rôma và vị kế nhiệm thánh Phêrô, “là nguyên lý và nền tảng hữu hình và trường tồn của sự hợp nhất, cả của cộng đoàn các Giám mục, cả của cộng đoàn các tín hữu” [11] . “Thật vậy, do nhiệm vụ của mình là Đại diện Đức Kitô và Mục tử của toàn thể Hội Thánh, Giám mục Rôma có quyền trọn vẹn, tối cao và phổ quát trong Hội Thánh và ngài luôn có quyền tự ý thực thi thẩm quyền đó” [12] .

883. “Giám mục đoàn không có thẩm quyền, nếu không kết hợp với Giám mục Rôma là thủ lãnh của họ”. Như vậy, Giám mục đoàn “cũng có quyền trọn vẹn và tối cao trong Hội Thánh phổ quát, nhưng chỉ có thể thi hành thẩm quyền này với sự ưng thuận của Giám mục Rôma” [13] .

884. “Giám mục đoàn thực thi thẩm quyền trong Hội Thánh phổ quát một cách trọng thể trong Công đồng chung” [14] . “Nhưng không bao giờ có thể có Công đồng chung, nếu không được vị kế nhiệm thánh Phêrô phê chuẩn hay ít ra chấp nhận” [15] .

885. “Giám mục đoàn vừa diễn tả tính đa dạng và tính phổ quát của dân Thiên Chúa vì gồm nhiều người, vừa diễn tả sự hợp nhất của đoàn chiên của Đức Kitô, vì được tập họp dưới quyền một vị làm đầu” [16] .

886. “Mỗi Giám mục là nguyên lý và nền tảng hữu hình của sự hợp nhất trong Giáo Hội địa phương của ngài” [17] . Như vậy, “mỗi Giám mục thực thi quyền mục vụ của mình trên phần dân Thiên Chúa được ủy thác cho mình” [18] , với sự trợ giúp của các linh mục và phó tế. Nhưng, với tư cách là thành viên Giám mục đoàn, mỗi Giám mục tham dự vào sự quan tâm đến tất cả các Giáo Hội [19] , các ngài thực thi sự quan tâm đó trước hết bằng việc “điều hành tốt Giáo Hội riêng như một phần của Hội Thánh phổ quát”, như vậy các ngài “mưu ích cho toàn nhiệm thể, cũng là thân thể của các Giáo Hội” [20] . Mối quan tâm này được đặc biệt hướng đến những người nghèo [21] , những người bị bách hại vì đức tin, cũng như đến các thừa sai đang hoạt động trên toàn trái đất.

887. Các Giáo Hội địa phương lân cận và có chung nền văn hóa tạo thành những giáo tỉnh, hay những tập thể lớn hơn được gọi là giáo miền hay địa hạt thượng phụ [22] . Các Giám mục của những tập thể này có thể họp Công nghị hay Công đồng giáo tỉnh. “Cũng vậy, ngày nay các Hội đồng Giám mục có thể góp phần một cách đa dạng và phong phú để ý kiến tập đoàn được áp dụng cụ thể” [23] .

BÀI GIẢNG ĐỨC THÁNH CHA – CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN NĂM A

Đây là những bài giảng và huấn dụ của Đức Thánh Cha trong các thánh lễ và các buổi đọc kinh truyền tin với các tín hữu vào Chúa nhật 21 Thường niên năm A.

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 21 Thường niên năm A (27/8/2023) – Chúa Giêsu là ai đối với tôi?

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 21 Thường niên năm A (23/8/2020) – Giáo hội luôn tiến bước trong đức tin của Thánh Phêrô

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 21 Thường niên năm A (27/8/2017) – Mỗi tín hữu là một viên đá trong toà nhà Giáo Hội

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 21 Thường niên năm A (24/8/2014) – Giáo Hội là một dân tộc được xây dựng trên đức tin

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 21 Thường niên năm A (24/8/2008) – Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 21 Thường niên năm A (27/8/2023) – Chúa Giêsu là ai đối với tôi?

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Hôm nay trong Tin Mừng (x. Mt 16,13-20) Chúa Giêsu hỏi các môn đệ – một câu hỏi đẹp: “Người ta nói Con Người là ai?” (câu 13).

Chúng ta cũng có thể hỏi: người ta nói Chúa Giêsu là ai? Nhìn chung, người ta nói những điều tốt đẹp: nhiều người coi Người như một bậc thầy vĩ đại, một con người đặc biệt: tốt lành, công bằng, nhất quán, can đảm… Nhưng liệu những điều này có đủ để hiểu về Người là ai không, và trên hết, liệu nó có đủ đối với Chúa Giêsu không? Có vẻ không. Nếu Người chỉ là một nhân vật trong quá khứ – như những nhân vật dành cho con người thời đó được đề cập trong chính Tin Mừng, như ông Gioan Tẩy Giả, ông Môsê, ông Êlia và các vị tiên tri vĩ đại – thì đó sẽ chỉ là một ký ức đẹp về một thời. Và điều này không đúng với Chúa Giêsu. Vì thế, ngay sau đó, Chúa hỏi các môn đệ câu hỏi mang tính quyết định: “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai?” (câu 15). Bây giờ Ta là ai đối với con? Chúa Giêsu không muốn trở thành nhân vật chính của lịch sử, nhưng muốn trở thành nhân vật chính của lịch sử đời bạn, lịch sử đời tôi hôm nay; không phải là một vị tiên tri xa xôi: Chúa Giêsu muốn là Thiên Chúa gần gũi!

Anh chị em thân mến, Chúa Kitô không phải là ký ức của quá khứ, mà là Thiên Chúa của hiện tại. Nếu Người chỉ là một nhân vật lịch sử thì ngày nay không thể bắt chước Người được: chúng ta sẽ thấy mình đang đứng trước bước ngoặc của thời gian và trên hết là đối diện với hình mẫu của Người, giống như một ngọn núi rất cao không thể đạt tới; khát khao để leo lên đến đỉnh núi, nhưng lại thiếu những khả năng và phương tiện cần thiết. Ngược lại, Chúa Giêsu sống, Người sống trong Giáo hội, trong thế giới và đồng hành với chúng ta, Người ở bên cạnh chúng ta, Người ban cho chúng ta Lời của Người và ân sủng của Người, soi sáng và phục hồi chúng ta trên hành trình bước đi. Chúa là chuyên gia hướng dẫn và đầy khôn ngoan, Người vui lòng khi đồng hành với chúng ta trong những con đường khó khăn nhất và trên những đoạn núi hiểm trở nhất .

Anh chị em thân mến, trên bước đường cuộc sống, chúng ta không đơn độc, vì Chúa Kitô ở cùng chúng ta, Chúa Kitô giúp chúng ta bước đi, như Người đã làm với Phêrô và với các môn đệ khác. Chính Thánh Phêrô, trong Tin Mừng hôm nay, hiểu điều này và nhờ ân sủng nhận ra nơi Chúa Giêsu “Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (c. 16), Phêrô nói: “Thầy là Đức Kitô, Thầy là Con Thiên Chúa hằng sống”; Người không phải là một nhân vật của quá khứ, mà là Đấng Kitô, tức là Đấng Mêsia được mong đợi; không phải là một anh hùng đã khuất, mà là Con Thiên Chúa hằng sống, đã làm người và đến để chia sẻ niềm vui cũng như khó khăn trên hành trình của chúng ta. Chúng ta đừng nản lòng nếu đôi khi đỉnh núi của đời sống Kitô hữu dường như quá cao và con đường quá dốc. Chúng ta hãy nhìn lên Chúa Giêsu: luôn luôn, nhìn lên Chúa Giêsu, Đấng bước đi bên cạnh chúng ta, Đấng đón nhận những yếu đuối của chúng ta, chia sẻ những vất vả của chúng ta và đặt cánh tay vững chắc và dịu dàng của Người lên đôi vai yếu đuối của chúng ta. Với Người ở gần, chúng ta cũng hãy cầm tay nhau và làm mới lại niềm tin tưởng: với Chúa Giêsu, sẽ không còn điều mà một mình dường như không thể thực hiện được, nhưng với Chúa Giêsu chúng ta có thể tiến bước!

Hôm nay thật tốt khi chúng ta lặp lại câu hỏi dứt khoát mà chính Người đặt ra: “Anh em nói Thầy là ai?” (xem câu 15). Bạn, chính bạn – Chúa Giêsu nói: con nói Thầy là ai? Hãy nghe Chúa Giêsu hỏi chúng ta điều này. Nói cách khác: Chúa Giêsu là ai đối với tôi? Một nhân vật vĩ đại, một điểm tham chiếu, một hình mẫu không thể đạt tới? Hay Người là Chúa Con, Đấng bước đi bên cạnh tôi, Đấng có thể đưa tôi đến đỉnh cao của sự thánh thiện, nơi mà một mình tôi không thể đạt tới? Chúa Giêsu có thực sự sống động trong cuộc đời tôi không, và tôi tự hỏi: Chúa Giêsu có sống với tôi không? Người có phải là Chúa của tôi không? Tôi có trông cậy vào Người trong những lúc khó khăn không? Tôi có vun trồng sự hiện diện của Người qua Lời Chúa và qua các Bí tích không? Tôi có để mình được Người hướng dẫn cùng với anh chị em của tôi trong cộng đoàn không?

Xin Đức Maria, Mẹ của cuộc hành trình, giúp chúng ta cảm nhận được Con của Mẹ đang sống và hiện diện bên cạnh chúng ta.

Nguồn: vaticannews.va/vi

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 21 Thường niên năm A (23/8/2020) – Giáo hội luôn tiến bước trong đức tin của Thánh Phêrô

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay (x. Mt 16,13-20) thuật lại giây phút thánh Phêrô tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu, như Đấng Cứu Thế và Con Thiên Chúa. Việc tuyên xưng của thánh tông đồ do chính Chúa Giêsu gợi lên; Chúa muốn dẫn các môn đệ của Người thực hiện bước quyết định trong tương quan với Người. Thực tế là toàn bộ hành trình của Chúa Giêsu với những người theo Người, đặc biệt là với Nhóm Mười Hai, là một hành trình giáo dục đức tin của họ. Trước hết, Người hỏi: “Người ta nói Con Người là ai?” (c.13). Các tông đồ, cũng như chúng ta, thích nói về người khác; họ thích bàn tán. Và Đức Thánh Cha giải thích: Nói về người khác không phải là điều khó khăn lắm, vì thế chúng ta thích nó, ngay cả khi nói xấu người khác. Trong trường hợp này, nó đòi có một viễn tượng đức tin chứ không phải là những điều đồn đại tầm phào, nghĩa là Chúa hỏi: “Người ta nói Con Người là ai?”. Và các môn đệ dường như tranh đua nhau trong việc đưa ra các ý kiến khác nhau, mà có lẽ chính họ phần lớn có chung những ý kiến này. Về cơ bản, Chúa Giêsu thành Nadarét được xem là một vị ngôn sứ (câu 14).

Với câu hỏi thứ hai, Chúa Giêsu hỏi thẳng các môn đệ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” (c. 15). Ở điểm này, chúng ta dường như cảm nhận được một vài khoảnh khắc im lặng, bởi vì mỗi người trong số những người hiện diện được kêu gọi tham gia, bày tỏ lý do tại sao mình theo Chúa Giêsu; do đó việc các môn đệ do dự trả lời cũng là điều đương nhiên dễ hiểu. Ngay cả nếu bây giờ tôi hỏi anh chị em: “Đối với bạn, Chúa Giêsu là ai?” thì sẽ có một chút ngần ngừ do dự. Ông Simon cứu họ khỏi sự bối rối; ông hăng hái tuyên bố: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (c. 16). Đức Thánh Cha nhận định: Câu trả lời này, đầy đủ và rõ ràng như thế, không xuất phát từ sự hăng say của ông, dù ông rất quảng đại, nhưng đến từ ân sủng đặc biệt của Cha trên trời. Chính Chúa Giêsu nói với ông: “Không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nghĩa là không phải do những điều anh học hỏi. Điều này không mặc khải cho anh. Nhưng là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời mặc khải cho anh” (c. 17). Tuyên xưng Chúa Giêsu là một ơn của Chúa Cha. Nói rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống, là Đấng Cứu Thế, là một ơn mà chúng ta phải cầu xin: “Xin Cha ban cho con ơn tuyên xưng Chúa Giêsu.”

Đồng thời, Chúa nhìn nhận sự đáp trả mau lẹ của ông Simon dưới sự soi sáng của ân sủng và do đó Chúa nói thêm, bằng một giọng trang trọng: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (c .18). Với lời khẳng định này, Chúa Giêsu làm cho ông Simôn hiểu ý nghĩa của tên mới mà ngài đặt cho ông, “Phêrô”: đức tin mà ông vừa biểu lộ là “tảng đá” không thể lay chuyển trên đó Con Thiên Chúa muốn xây dựng Hội Thánh của Người, tức là Cộng đoàn của Người. Giáo hội luôn tiến bước trong đức tin của thánh Phêrô, trên đức tin mà Thiên Chúa nhận ra, mà Chúa Giêsu nhận ra và đặt ông làm đầu Giáo hội.

Hôm nay, chúng ta nghe câu hỏi của Chúa Giêsu nói với mỗi người chúng ta: “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai?”. Câu hỏi đặt ra cho mỗi người chúng ta và mỗi người phải đưa ra câu trả lời không phải là lý thuyết, nhưng một câu trả lời liên quan đến đức tin, tức là cuộc sống, bởi vì đức tin là cuộc sống! “Đối với con, Chúa là…” và tuyên xưng Chúa Giêsu. Đó là câu trả lời cũng yêu cầu chúng ta, giống như các môn đệ đầu tiên, lắng nghe trong nội tâm tiếng nói của Chúa Cha và sự âm vang qua đó Giáo hội, quy tụ quanh thánh Phêrô, tiếp tục loan báo. Đó là phải hiểu Chúa Kitô là ai: Người có phải là trung tâm của cuộc sống chúng ta và là mục tiêu của mọi dấn thân của chúng ta trong Giáo hội và trong xã hội không. Đối với tôi, Chúa Giêsu là ai? Đối với bạn, Chúa Giêsu là ai? Một câu trả lời chúng ta phải có mỗi ngày.

Nhưng lưu ý: Điều không thể thiếu và đáng khen ngợi là việc chăm sóc mục vụ của các cộng đồng của chúng ta phải luôn mở ra với rất nhiều hoàn cảnh khó khăn và tình trạng khẩn cấp. Bác ái luôn là con đường chính yếu của hành trình đức tin, của sự hoàn thiện của đức tin. Nhưng điều cần thiết là các công việc liên đới, những việc bác ái chúng ta làm, không làm mất liên lạc với Chúa Giêsu. Bác ái Kitô giáo không phải là việc từ thiện đơn thuần, nhưng một mặt, là nhìn người khác với cùng ánh mắt của Chúa Giêsu và mặt khác, là nhìn thấy Chúa Giêsu nơi gương mặt của người nghèo. Và đây là con đường thật sự của bác ái Kitô giáo, với Chúa Giêsu ở trung tâm.

Cuối cùng, Đức Thánh Cha cầu nguyện: xin Mẹ Maria rất thánh, được chúc phúc vì đã tin, hướng dẫn và làm gương cho chúng ta trên hành trình đức tin vào Chúa Kitô, và giúp chúng ta ý thức rằng sự tin cậy nơi Người mang lại ý nghĩa trọn vẹn cho việc bác ái và toàn thể cuộc sống của chúng ta.

Nguồn: vaticannews.va/vi

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 21 Thường niên năm A (27/8/2017) – Mỗi tín hữu là một viên đá trong toà nhà Giáo Hội

Chào anh chị em,

Tin Mừng Chúa nhật hôm nay (Mt 16:13-20) đưa chúng ta trở lại thời điểm quan trọng trong cuộc hành trình của Chúa Giêsu với các môn đệ của Ngài: thời điểm mà Ngài muốn đánh giá mức độ đức tin của họ nơi Ngài. Đầu tiên, Ngài muốn biết mọi người nghĩ gì về mình; và người ta nghĩ rằng Chúa Giêsu là một ngôn sứ, điều này đúng, nhưng họ không nắm bắt được bản chất đích thực của Ngài; và họ cũng không hiểu tầm quan trọng của sứ mệnh của Ngài. Rồi Ngài hỏi các môn đệ câu hỏi sâu sắc nhất trong lòng Ngài, Ngài hỏi thẳng họ: “Phần các con, các con nói Thầy là ai?” (câu 15).

Và với chữ “phần các con” này Chúa Giêsu tách rời các Tông Đồ khỏi đám đông, như thể nói rằng: phần các con là những người ở với Thầy mọi ngày và biết thầy cách gần gũi, các con đã lãnh nhận được điều gì hơn? Vị Thầy chờ đợi từ các người của Ngài một câu trả lời cao hơn và khác với dư luận của dân chúng. Và thật thế một câu trả lời như thế nảy sinh từ con tim của Simon gọi là Phêrô: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (c.18). Simon Phêrô tìm thấy trên môi miệng các lời to lớn hơn ông, các lời không đến từ các khả năng tự nhiên của ông. Có lẽ ông đã không học tiểu học, nhưng có khả năng nói các lời này mạnh mẽ hơn ông! Nhưng chúng được linh hứng bởi Thiên Chúa Cha trên trời (c.17), là Đấng vén mở trước cho Mười Hai Tông Đồ căn tính đích thật của Chúa Giêsu: Ngài là Đấng Messia Đấng Cứu Thế, là Con được Thiên Chúa Cha gửi tới để cứu thoát nhân loại. Và từ câu trả lời đó Chúa Giêsu hiểu rằng nhờ đức tin do Thiên Chúa Cha ban cho, có một nền tảng vững chắc trên đó có thể xây dựng cộng đoàn của Ngài, Giáo Hội của Ngài. Vì thế Ngài nói với ông Simon: “Con Simon con là Đá – nghĩa là đá, đá tảng – và trên đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy” (c.18).

Cả với chúng ta hôm nay Chúa Giêsu muốn tiếp tục xây Giáo Hội Ngài, căn nhà này với nền tảng vững chắc, nhưng không thiếu các vết nứt và liên tục cần phải được sửa chữa. Luôn luôn: Giáo Hội luôn luôn cần được cải tổ, sửa chữa, như vào thời của thánh Phanxicô thành Assisi. Chắc chắn chúng ta không cảm thấy mình là các đá tảng, nhưng chỉ là các viên đá nhỏ. Tuy nhiên, không có viên đá nhỏ nào vô ích cả, trái lại, trong tay của Chúa Giêsu viên đá bé nhất trở thành quý báu, bởi vì Chúa nhặt lấy nó, nhìn nó với sự hiền dịu lơn lao, làm việc nó với Thần Khí của Ngài, và đặt để nó vào đúng chỗ, mà Ngài đã nghĩ cho nó từ đời đời và là nơi nó có thể hữu ích hơn cho toàn công trình xây dựng. Mỗi một người trong chúng ta là một viên đá nhỏ, nhưng trong bàn tay của Chúa Giêsu xây dựng Giáo Hội. Và tất cả chúng ta dù có bé nhỏ tới đâu đi nữa, chúng ta đã được biến thành “các viên đá sống động”, bởi vì khi Chúa Giêsu cầm trong tay viên đá của Ngài, Ngài biến nó trở thành của Ngài, Ngài làm cho nó sống động, tràn đầy sự sống bởi Chúa Thánh Thần, tràn đầy sự sống từ con tim của Ngài, và như thế chúng ta có một chỗ và một sứ mệnh trong Giáo Hội: Giáo Hội là một cộng đoàn sự sống: được làm bằng biết bao nhiêu viên đá, tất cả khác nhau, nhưng làm thành một ngôi nhà duy nhất trong dấu chỉ của tình huynh đệ và sự hiệp thông.

Hơn nữa, Tin Mừng hôm nay cũng nhắc cho chúng ta biết rằng Chúa Giêsu cũng đã muốn cho Giáo Hội Ngài có một trung tâm hữu hình của sự hiệp thông, đó là nơi Phêrô: cả thánh nhân nữa, không phải là một hòn đá lớn, mà cũng là một viên đá bé nhỏ, nhưng đã được Chúa Giêsu cầm lấy nên trở thành trung tâm của sự hiệp thông, nơi thánh Phêrô và nơi các người sẽ kế vị Ngài trong cùng trách nhiệm giáo chủ, ngay từ nguồn gốc đã được đồng hóa với các Giám Mục Roma, là thành phố nơi Phêrô và Phaolô đã làm chứng bằng máu.

Chúng ta hãy phó thác mình cho Đức Trinh Nữ Maria, Nữ Vương các Tông Đồ, Mẹ Giáo Hội. Mẹ đã ở trong Nhà Tiệc Ly bên cạnh thánh Phêrô, khi Chúa Thánh Thần hiên xuống trên các Tông Đồ và thúc đẩy các vị đi ra và loan báo cho mọi người rằng Chúa Giêsu là Chúa. Ngày nay xin Mẹ nâng đỡ chúng ta và đồng hành với chúng ta với sự bầu cử của Mẹ, để chúng ta thực hiện tràn đầy sự hiệp nhất và hiệp thông mà Chúa Giêsu và các Tông Đồ đã cầu xin và đã hiến mạng sống cho.

Nguồn: archivioradiovaticana.va

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 21 Thường niên năm A (24/8/2014) – Giáo Hội là một dân tộc được xây dựng trên đức tin

Anh chị em thân mến,

Bài đọc Tin Mừng Chúa nhật hôm nay (Mt 16:13-20) là một đoạn văn nổi tiếng và là trung tâm của Tin mừng theo Thánh Matthêu, trong đó Simon, thay mặt Nhóm Mười Hai, tuyên xưng đức tin của mình vào Chúa Giêsu là “Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Và Chúa Giêsu gọi ông là “có phước” vì lòng tin mà Thiên Chúa Cha đã ban cho ông, và Ngài nói với ông: “Con là Phêrô nghĩa là Đá Tảng, và trên tảng đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy”.

Chúng ta hãy dừng lại một chút trên điểm này, trên sư kiện Chúa Giêsu gán cho Simon tên gọi mới này: Phêrô trong tiếng nói của Chúa Giêsu là “Kêpha”, có nghĩa là “đá tảng”. Trong Thánh Kinh từ “đá tảng” được quy chiếu về Thiên Chúa. Chúa Giêsu gán cho Simon tên gọi này không phải vì các đức tính hay công nghiệp loài người của ông, mà vì lòng tin tinh tuyền và vững chắc của ông, lòng tin đến từ trên cao.

Chúa Giêsu cảm nhận trong tim Người một niềm vui lớn lao, bởi vì Người nhận ra nơi ông Simon bàn tay của Thiên Chúa Cha và hoạt động của Chúa Thánh Thần. Người nhận ra rằng Thiên Chúa Cha đã ban cho ông Simon một đức tin “có thể tin cậy được”, trên đó Chúa Giêsu có thể xây dựng Giáo Hội Người, nghĩa là cộng đoàn của Người. Chúa Giêsu có trong tâm trí ý muốn khai sinh ra Giáo Hội “của Người”, một dân tộc không xây dựng trên huyết thống, nhưng trên đức tin, nghĩa là trên tương quan với chính Người, một tương quan của tình yêu thương và sự tin tưởng. Như thế để bắt đầu Giáo Hội của Người Chúa Giêsu đã cần tìm ra nơi các môn đệ một đức tin “có thể tin cậy được”. Và đó là điều Người phải kiểm thực tại thời điểm này của lộ trình.

Chúa đã có trong trí hình ảnh của việc xây dựng, hình ảnh của một cộng đoàn như một ngôi nhà. Chính vì thế khi nghe lời tuyên xưng đức tin thẳng thắn của ông Simon, Người gọi ông là “đá tảng”, và bầy tỏ ý định xây dựng Giáo Hội của Người trên đức tin ấy.

Anh chị em thân mến, điều đã xảy ra một cách duy nhất nơi thánh Phêrô, cũng xảy ra nơi mọi tín hữu kitô có niềm tin chín chắn và chân thành nơi Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Phúc Âm hôm nay cũng gọi hỏi từng người trong chúng ta. Nếu Chúa tìm thấy trong con tim chúng ta một đức tin, tôi không nói là toàn vẹn, nhưng chân thành, tinh tuyền, thì khi đó Người cũng thấy nơi chúng ta các viện đá sống động để xây dựng cộng đoàn của Người. Đá tảng của cộng đoàn này là Chúa Kitô, viên đá góc duy nhất. Về phần mình, thánh Phêrô là đá tảng, vì là nền tảng hữu hình sự hiệp nhất của Giáo Hội. Nhưng mỗi một tín hữu đã được rửa tội đều được mời gọi cống hiến cho Chúa Giêsu niềm tin nghèo nàn, nhưng chân thành của họ, để Người có thể tiếp tục xây dựng Giáo Hội của Người ngày hôm nay trên mọi phần đất của thế giới này.

Cả ngày nay nữa “người ta” nghĩ rằng Chúa Giêsu là một ngôn sứ lớn, một bậc thầy của sự khôn ngoan, một mẫu gương của sự công chính… Và cả ngày nay Chúa Giêsu cũng hỏi các môn đệ Người: “Còn các con, các con nói Thầy là ai?” Chúng ta sẽ trả lời như thế nào? Hãy nghĩ tới điều đó. Nhưng nhất là hãy cầu xin Thiên Chúa Cha, để qua lời bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria, cầu nguyện để xin Chúa ban cho chúng ta ơn trả lời với con tim chân thành:

“Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

Nguồn: archivioradiovaticana.va

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 21 Thường niên năm A (24/8/2008) – Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống

Anh chị em thân mến,

Phụng vụ Chúa nhật hôm nay gửi đến các tín hữu Kitô chúng ta và đồng thời với mỗi người nam nữ hai câu hỏi mà Chúa Giêsu đã nên lên với các môn đệ của Chúa. Trước tiên Chúa hỏi họ: “Dân chúng nói Con Người là ai?”. Các môn đệ trả lời Chúa rằng đối với một số người trong dân ngài là Gioan Tẩy Giả trở lại, đối với người khác ngài là Elia, Giêrêmia hay một ngôn sứ nào đó”. Bấy giờ Chúa hỏi trực tiếp 12 môn đệ: “Vậy các con bảo Thầy là ai?”. Nhân danh mọi người, Phêrô mau mắn và quyết liệt nói: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Đó là lời long trọng tuyên xưng đức tin mà Giáo Hội vẫn tiếp tục lập lại từ đó. Cả chúng ta ngày nay cũng muốn tuyên xưng với đầy lòng xác tín: Đúng vậy, lạy Chúa Giêsu, Ngài là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống! Chúng ta tuyên xưng một cách đầy ý thức rằng chính Chúa Kitô là “kho tàng đích thực” và đáng cho chúng ta hy sinh mọi sự để đạt được Chúa; Chúa là người bạn không bao giờ bỏ rơi chúng ta, vì Chúa biết những mong đợi thâm sâu nhất trong tâm hồn chúng ta. Chúa Giêsu là “Con Thiên Chúa hằng sống”, là Đấng Messia đã được Thiên Chúa hứa, đã đến trần thế để mang lại cho nhân loại ơn cứu độ và để thỏa mãn khát vọng sự sống và yêu thương nơi mỗi người. Thật là lợi ích dường nào nếu nhân loại đón nhận lời công bố ấy, vốn chứa đựng trong mình niềm an vui!

“Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Đáp lại lời tuyên xưng đức tin được linh hứng này của Phêrô, Chúa Giêsu nói: “Con là Phêrô, và trên Đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy và các quyền lực hỏa ngục không thể thắng nổi. Thầy sẽ ban cho con chìa khóa nước trời”. Đây là lần đầu tiên Chúa Giêsu nói về Giáo Hội, và sứ mạng của Giáo Hội là thực hiện kế hoạch vĩ đại của Thiên Chúa là tụ tập toàn thể nhân loại thành một gia đình duy nhất trong Chúa Kitô. Sứ mạng của Phêrô và của những người kế nhiệm chính là phục vụ sự hiệp nhất ấy của Giáo Hội duy nhất của Thiên Chúa, gồm người Do thái và dân ngoại; sứ vụ của ngài là điều không thể thiếu được, làm cho Giáo Hội không bao giờ đồng hóa với một dân tộc, một nền văn hóa duy nhất nào, nhưng là Giáo Hội của mọi dân tộc, để làm cho an bình của Thiên Chúa và sức mạnh đổi mới của tình yêu Chúa hiện diện giữa loài người đang bị bao nhiêu chia rẽ và đối nghịch. Vì vậy phục vụ sự hiệp nhất nội tại đến từ hòa bình của Thiên Chúa, sự hiệp nhất của những người trở thành anh chị em với nhau trong Chúa Kitô: đó chính là sứ mạng đặc thù của Giáo Hoàng, Giám mục Roma và là người kế vị Thánh Phêrô.

Đứng trước trách nhiệm hết sức lớn lao của nghĩa vụ ấy, càng ngày tôi càng cảm thấy sự đòi hỏi dấn thân và tầm quan trọng của công tác phục vụ Giáo Hội và thế giới mà Chúa đã ủy thác cho tôi. Vì thế, anh chị em thân mến, tôi xin anh chị em nâng đỡ tôi bằng lời cầu nguyện của anh chị em, để trong niềm trung thành với Chúa Kitô, chúng ta có thể cùng nhau loan báo và làm chứng về sự hiện diện của Chúa Kitô trong thời đại chúng ta ngày nay. Ước mong Mẹ Maria xin cho chúng ta được ơn ấy, người Mẹ mà chúng ta tín thác khẩn cầu như Mẹ của Giáo Hội và là Ngôi Sao hướng dẫn công cuộc truyền giảng Tin Mừng.

Nguồn: archivioradiovaticana.va

Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)

Trước câu hỏi của Ðức Giêsu đặt ra cho các Tông Ðồ: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao ?”

Thánh Phêrô thay cho anh em nói lên niềm xác tín của mình nơi Ðức Giêsu: “Bỏ Thầy chúng con biết theo ai ? Thầy mới có lời ban sự sống đời đời”.

Còn câu trả lời của chúng ta thế nào ? Hãy trả lời cho Chúa bằng cuộc sống và bằng chính thái độ sống của mình.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa luôn muốn con người bước đi trong đường lối của Chúa. Nhưng Chúa không ép chúng con. Trái lại, Chúa hoàn toàn tôn trọng sự tự do lựa chọn của mỗi người chúng con.

Xin cho chúng con ngày càng khám phá rõ hơn nét đẹp của đường lối Chúa, để chúng con lựa chọn cho mình một đời sống hạnh phúc vĩnh cửu. Ðời sống ấy chỉ có được khi chúng con sống theo ý Chúa mà thôi. Amen.

Ghi nhớ: Người ta bảo Con Người là ai ?”

 

Suy niệm (Lm. Inhaxiô Hồ Văn Xuân)

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Is 22,19-23

Chúng ta biết khá rõ về những cuộc cãi cọ của ngôn sứ I-sai-a với vua A-khát và những lời sấm nổi tiếng của ngôn sứ báo một vị tân vương sẽ lên ngôi trị vì tại Giu-đa, đó là vua Khít-ki-gia, cai trị Giu-đa từ năm 716–687 trước Công nguyên, mà theo các tác giả Kinh Thánh, là một vị minh quân. Sách các Vua quyển thứ hai ca tụng ông hết lời : “Vua đã làm điều ngay chính trước mắt Đức Chúa, đúng như vua Đa-vít, tổ phụ vua đã làm. Chính vua đã dẹp các tế đàn ở nơi cao, đập bể các trụ đá, bổ các cột thờ và đập tan con rắn đồng ông Mô-sê đã làm, vì cho đến thời đó, con cái Ít-ra-en vẫn đốt hương kính nó” (2 V 18,1-4). Ta có thể nói nhà vua tuyên chiến quyết liệt với việc thờ bụt thần, tôn thờ ngẫu tượng. Do đó ông được khen ngợi : “Vua đã đặt niềm tin tưởng vào Đức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en. Sau vua, chẳng có vua Giu-đa nào được như thế, cũng như trước vua chẳng có ai được như vậy. Vua gắn bó với Đức Chúa, không bỏ Người ; vua tuân giữ các mệnh lệnh Đức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê. Vì thế, Đức Chúa đã ở với vua ; vua tra tay làm việc gì thì cũng thành công” (2 V 18,5-7).

Một khởi đầu thật tốt đẹp ! Nhưng rồi mọi việc trở nên tồi tệ, tình hình chính trị trở nên rối ren, ta có thể nói đây là một thời kỳ biến động nhất trong lịch sử dân riêng Chúa chọn. Vua cha của vua Khít-ki-gia là vua A-khát chấp nhận sự bảo trợ của đế quốc Át-sua, và trong suốt triều đại của mình, vua Khít-ki-gia mong ước lấy lại tự do cho dân tộc, cho đất nước, do đó thỉnh thoảng ông nổi lên chống lại vua Át-sua, hoặc dựa vào sự hỗ trợ của Ai-cập, việc đó cũng không làm cho tình hình sáng sủa hơn. Mà tất cả mọi liên minh của nhân loại đều phải trả giá. Đó là điều ngôn sứ I-sai-a không đồng tình. Chẳng hạn, vào một ngày, vua Át-sua bắt vua Khít-ki-gia phải nộp chín ngàn ký bạc và chín trăm ký vàng. Vua Khít-ki-gia nộp tất cả số bạc có trong nhà Đức Chúa và trong kho đền vua. Chính vào thời đó, vua Khít-ki-gia đập gẫy các cánh cửa của đền thờ Đức Chúa, cũng như các khung cửa mà vua Giu-đa đã bọc bằng kim khí, lấy nộp cho vua Át-sua (2 V 18,15-16). Câu chuyện về ông Sép-na và ông En-gia-kim được viết trong bối cảnh này. Trong khi nhà vua điên đầu với những vấn đề chính trị quan trọng nhằm duy trì tự do tôn giáo cho dân Ít-ra-en (đây là việc ngôn sứ I-sai-a xem là quan trọng nhất), thì Sép-na, viên tể tướng của triều đình chỉ nghĩ đến bản thân, lo vơ vét cho đầy túi tham của mình.

Chúng ta có thể thắc mắc là Kinh Thánh, một quyển sách trong đó chúng ta tìm thấy một ngôn ngữ thần học, một mặc khải căn bản nhất, quan trọng nhất về Thiên Chúa, lại đưa vào những câu chuyện lịch sử tồi tệ, những âm mưu thâm độc chốn cung đình, mà câu chuyện về ông Sép-na và ông En-gia-kim là một ví dụ điển hình. Thưa khi viết Kinh Thánh theo ơn linh hứng của Thiên Chúa, các tác giả Kinh Thánh ghi lại trung thực đời sống của con người, có những mặt tốt cũng như những mặt xấu, và cũng cho ta thấy Thiên Chúa mặc khải dần dần về Người trong lịch sử của nhân loại. Điều quan trọng là chúng ta cần tìm cách nhận ra sự hiện diện và hành động của Thiên Chúa trong cuộc đời của mỗi người, chẳng hạn ở đây, trong bài đọc 1 chúng ta vừa nghe, Thiên Chúa không để cho nhà vua thiếu sự cộng tác cần thiết quá lâu. Ngôn sứ I-sai-a vạch trần những động cơ thầm kín của ông Sép-na và báo việc ông Sép-na bị cách chức : “Người hùng ơi, này đây Đức Chúa sắp thẳng tay quăng ông đi, sắp túm chặt lấy ông, sắp cuốn, sắp cuộn tròn ông lại, như một quả bóng lăn vào vùng đất mênh mông. Ông sẽ chết tại đó, và chiến xa từng làm cho ông vẻ vang rạng rỡ cũng sẽ nằm tại đó. Ông ơi, ông là mối nhục nhã cho nhà của chủ ông” (Is 22,17-18). Chiến xa, “sự nhục nhã của ông En-gia-kim” có lẽ ám chỉ đến chủ trương liên minh với Ai-cập do ông Sép-na cổ vũ, khiến ngôn sứ I-sai-a nổi cơn thịnh nộ. Nhìn qua, chúng ta phải cảm phục lòng nhiệt thành của ngôn sứ I-sai-a, mối bận tâm đặc biệt của ông đối với những lợi ích của dân Thiên Chúa. Ta cũng có thể dễ dàng đoán rằng nhà vua sẵn sàng nghe lời can gián của ngôn sứ I-sai-a, nên ông có thể can thiệp vào những việc trong cung đình.

Trái ngược với vẻ bề ngoài, trong bài đọc 1 hôm nay, chúng ta thấy có một lời khích lệ : ngôn sứ I-sai-a cho biết Thiên Chúa sắp can thiệp vì ích lợi của dân riêng Người chọn, bằng việc cách chức vị tể tướng thối nát, xấu xa là ông Sép-na và đưa ông En-gia-kim, một tôi trung của Thiên Chúa, thay thế. Như thế là chấm dứt mọi lo âu, mọi bất ổn : “Ta sẽ làm cho nó vững chắc như đinh đóng cột, nó sẽ nên như ngai vinh hiển cho nhà cha nó.”

Chúng ta không ngạc nhiên khi bản văn hôm nay được chọn như là tiếng dội của bài Tin Mừng về việc thánh Phê-rô tuyên xưng đức tin tại Xê-da-rê Phi-líp-phê (Mt 16). Chúng ta đọc thấy ở đây tính bền vững Đức Giê-su hứa cho Hội Thánh của Người, đàng khác, biểu tượng “quyền chìa khoá” đã có ngay từ thời Cựu Ước. “Chìa khoá nhà Đa-vít, Ta sẽ đặt trên vai nó. Nó mở ra thì không ai đóng được, nó đóng lại thì không ai mở được.”

Đáp ca : Tv 137

Thánh vịnh 137 là một lời cảm tạ dâng lên Thiên Chúa là Cha từ bi nhân ái, là Đấng muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương. Thánh vịnh 137 là một thánh vịnh rất ngắn, chúng ta vừa nghe gần như toàn bộ thánh vịnh này, nhưng từng câu từng chữ trong thánh vịnh chất chứa cả một lịch sử, như trong các thánh vịnh khác, đó là lịch sử của Giao ước và dân Ít-ra-en. Chính dân tộc này đã được Chúa chọn để trở nên kẻ tâm phúc của Người, trở nên ngôn sứ của Người, được Chúa mặc khải cho biết Người là Tình Yêu ; ngôn sứ của Thiên Chúa là người có trách nhiệm nói cho cả thế giới biết chân lý này. Đó là ý nghĩa sâu xa của thánh vịnh 137 chúng ta vừa nghe. Một lần nữa, chính toàn thể Ít-ra-en nói. Từ “con” ở đây chỉ một tập thể như trong tất cả các thánh vịnh. Chắc chắn vua Đa-vít không phải là tác giả của thánh vịnh này, nhưng Đa-vít là người luôn biết ơn Chúa : “Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ.” Ở đây, ta nghe dội lại câu nói nổi tiếng của sách Đệ nhị luật : “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết sức lực ngươi.” Vậy tại sao phải tạ ơn Chúa ? Thưa “vì Ngài đã nghe lời miệng con xin”“Giữa chư vị thiên thần, con đàn ca kính Chúa.” Đó là câu nói của người tín hữu tham dự Phụng vụ trên trời, nơi đó các tôi tớ Chúa không ngừng ca tụng Chúa : “Thánh, Thánh, Thánh. Đức Chúa là Chúa Tể càn khôn.” Đó là lời tuyên xưng đức tin của dân Ít-ra-en, cho thấy Ít-ra-en không quên ơn gọi của mình là làm chứng cho mọi dân tộc biết Thiên Chúa là Tình Yêu.

“Xin cảm tạ danh Chúa, vì Ngài vẫn thành tín yêu thương.” Kiểu nói “thành tín yêu thương” là một trong những kiểu nói thường được sử dụng để nhắc lại Giao ước của Thiên Chúa và những công trình Người đã thực hiện vì yêu thương dân riêng của Người. Đó là định nghĩa mà chính Thiên Chúa đã nói với Mô-sê : “Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6). Cuối thánh vịnh, chúng ta lại gặp chủ đề tình yêu của Thiên Chúa : “Lạy Chúa, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” Thánh vịnh kết thúc bằng một lời cầu nguyện : “Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang” có nghĩa là xin Chúa cứ tiếp tục công trình cứu độ của Người dù chúng ta hay bất tín và vẫn thường tái phạm những lỗi lầm làm Chúa buồn, vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

Bài đọc 2 : Rm 11,33-36

Bài đọc 2 hôm nay kết thúc phần suy niệm của thánh Phao-lô về tình trạng lịch sử và tôn giáo hết sức lộn xộn từ hơn một ngàn năm qua, dân Ít-ra-en hiểu rằng họ là sứ giả của Thiên Chúa thật và duy nhất trong thế giới, nơi mà việc thờ bụt thần được xem như là chuyện bình thường trong mối liên hệ giữa con người và thần linh. Toàn bộ lịch sử Ít-ra-en là lịch sử của Giao ước mà Chúa đã ký kết với dân tộc này trong các biến cố của cuộc Xuất hành : một đám dân chạy trốn chốn nô lệ bên Ai-cập. Thiên Chúa đã giải thoát họ để họ được sống tự do ; ban cho họ những quy luật sống, và hứa luôn trung tín với họ và cho họ một tương lai huy hoàng : “Anh em cứ hỏi những thời xa xưa, thời có trước anh em, từ ngày Thiên Chúa dựng nên con người trên mặt đất … Có bao giờ đã xảy ra chuyện vĩ đại như thế ? … Có dân tộc nào đã được nghe tiếng Thiên Chúa phán từ trong đám lửa như anh em đã nghe, mà vẫn còn sống không ? … Chính anh em đã được cho thấy những điều đó, để biết rằng Đức Chúa là Thiên Chúa, và ngoài Người ra không có thần nào khác nữa” (Đnl 4,32-25).

Các ngôn sứ từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, nhất là những lúc nguy khó, luôn nhắc cho dân Ít-ra-en nhớ rằng họ là dân tộc được Chúa chọn và hãy vững tin vào tính bền vững của Giao ước mà Thiên Chúa đã ký kết với họ và tương lai rực rỡ Người đã hứa ban cho họ : “Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất” (Is 49,6). Kế hoạch đó sẽ được thực hiện như thế nào ? Thánh Phao-lô không biết, nhưng chắc chắn sẽ trở thành hiện thực trong tương lai. Vì xác tín như vậy, nên ta thấy thánh Phao-lô thán phục : “Khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào !” Thánh Phao-lô khiêm tốn nhìn lại những tâm tình ngưỡng mộ trong Cựu Ước : “Kỳ diệu thay, tri thức siêu phàm, quá cao vời, con chẳng sao vươn tới. Lạy Chúa, con thấy tư tưởng Ngài khó hiểu biết bao, tính chung lại, ôi nhiều vô kể” (Tv 137,6.17). Khi thánh Phao-lô reo lên : “Quyết định của Ngài, ai dò cho thấu ! Đường lối của Ngài, ai theo dõi được ! Ai đã làm cố vấn cho Ngài ?” là thánh Phao-lô lấy lại lời của ngôn sứ I-sai-a : “Thần Khí Đức Chúa, ai đo cho nổi ? Ai làm quân sư chỉ vẽ cho Người ? Người đã thỉnh ý ai để giúp Người thông hiểu, bảo cho Người biết lối công minh, dạy cho Người mở mang kiến thức, chỉ cho Người con đường trí tuệ ?” (Is 40,13-14). “Nhưng khôn ngoan từ đâu ra, và trí hiểu ở chốn nào ? Đường nẻo của khôn ngoan một mình Thiên Chúa tỏ, chính Người biết nơi ở của khôn ngoan” (G 28,12.23). “Không một ý nghĩ nào Người không thấu suốt, chẳng một lời nào là bí ẩn đối với Người. Người khôn ngoan sắp xếp những công trình vĩ đại, vì Người hằng có từ đời đời đến muôn muôn thuở, không cần thêm hay bớt điều gì và cũng chẳng cần ai làm cố vấn” (Hc 42,20-21).

Bài Tin Mừng : Mt 16,13-20

Đối với thánh Mát-thêu, câu chuyện tại Xê-da-rê Phi-líp-phê là một khúc quanh quan trọng trong cuộc đời của Đức Giê-su, vì ngay sau câu chuyện này, ngài thêm : “Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết : Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại.” Kiểu nói “từ lúc đó” có nghĩa là một giai đoạn đã vượt qua, nhưng cũng là kiểu nói làm cho ta ngạc nhiên nhất trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe. Đức Giê-su tự xưng là “Con Người”, danh hiệu này được lặp lại đến 9 lần trong Tin Mừng Mát-thêu, và ông Phê-rô gọi Chúa Giê-su là “Con Thiên Chúa”.

Con Người”, kiểu nói trong chương 7 sách Đa-ni-en : “Trong những thị kiến ban đêm, tôi mải nhìn thì kìa : có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến. Người tiến lại gần bên Đấng Lão Thành, và được dẫn đưa tới trình diện. Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị ; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một ; vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong” (Đn 7,13-14). Trong một vài câu xa hơn, ngôn sứ Đa-ni-en xác nhận “Con Người” không phải là một cá nhân đơn độc, nhưng là một dân tộc : “Rồi chư thánh của Đấng Tối Cao sẽ lãnh nhận vương quyền và nắm giữ vương quyền ấy mãi mãi muôn đời. Còn vương quốc với quyền thống trị cũng như địa vị cao cả của các vương quốc khắp thiên hạ sẽ được trao cho dân thánh của Đấng Tối Cao. Vương quyền của dân ấy là vương quyền vĩnh cửu, và mọi quyền thống trị sẽ phụng sự và vâng phục dân ấy” (Đn 7,18.27). Vì thế, khi tự xưng là “Con Người”, Đức Giê-su tự giới thiệu mình là người đứng đầu dân Thiên Chúa.

Danh xưng thứ hai : “Con Thiên Chúa”. Đây cũng không phải là lần đầu tiên.

Ngay từ đầu Tin Mừng Mát-thêu (chương 4), quỷ cám dỗ Đức Giê-su trong sa mạc, đã sử dụng danh xưng này : “Nếu ông là Con Thiên Chúa” (Mt 4,3). Tên cám dỗ hiểu sai về ý nghĩa của danh xưng này. Hắn tưởng tượng một vị Con Thiên Chúa đầy uy quyền và không hề bị tổn thương, hắn sẽ lợi dụng uy quyền của Người để làm lợi cho nó ; tuy nhiên, đối với Đức Giê-su thì ngược lại, là Con Thiên Chúa, nên Người hoàn toàn phó thác cho Chúa Cha và sống nhờ lời của Người. Rồi hai người bị quỷ ám ở Ga-đa-ra bên kia Biển Hồ Ti-bê-ri-át, thuộc miền Thập Tỉnh đã gọi Đức Giê-su : “Hỡi Con Thiên Chúa, chuyện chúng tôi can gì đến ông ?” (Mt 8,29). Và sau cùng là việc Đức Giê-su đi trên mặt nước. Thánh Mát-thêu kể thuyền đã ra khỏi bờ, và bị sóng đánh vì ngược gió. Ðức Giê-su đi trên mặt biển đến với các môn đệ, lúc đầu các ông hoảng sợ vì tưởng mình thấy ma, nhưng Đức Giê-su đã trấn an họ : “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ !” Ông Phê-rô liền thưa với Người : “Thưa Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Thầy.” Chúng ta biết chỉ vừa bước được vài bước là ông bắt đầu chìm. Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói : “Người đâu mà kém tin vậy ! Sao lại hoài nghi ?” Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng ngay. Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói : “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa.” Buồn cười là các môn đệ nhận biết căn tính (nhân thân) của Đức Giê-su, còn Phê-rô thì trái lại bị Đức Giê-su gọi là “người kém lòng tin”, điều đó không có nghĩa là đức tin của các môn đệ khác không có vấn đề. Phải cần một chặng đường dài nữa thì các môn đệ mới có thể khám phá căn tính thật sự của Đức Giê-su.

Tại Xê-da-rê là một sự kiện mới, ông Phê-rô không nói điều đó khi thấy Đức Giê-su biểu dương uy quyền của Người, trái lại trong những câu đi trước lời tuyên xưng đức tin của thánh Phê-rô, Đức Giê-su vừa từ chối cho một dấu lạ theo yêu cầu của nhóm Pha-ri-sêu và Xa-đốc. Bây giờ, một chặng nữa đã được vượt qua : không còn mơ hồ về danh xưng “Con Thiên Chúa” nữa. Ông Phê-rô đang trên con đường tiến tới đức tin : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.”

Cũng là điều mới lạ ở Xê-da-rê, không phải là việc sử dụng một trong hai danh xưng của Đức Giê-su, nhưng là một câu hỏi khác : “Người ta bảo Con Người là ai ?” Đức Giê-su hỏi và ông Phê-rô thưa : “Thầy là Con Thiên Chúa.” Đức Giê-su cũng trả lời cho vị thượng tế như vậy trong cuộc Thương Khó khi vị này nói : “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết : Ông có phải là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa không ?” Và Đức Giê-su đáp lại : “Chính ngài vừa nói. Hơn nữa, tôi nói cho các ông hay : từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến” (Mt 26,63-64).

Ngay khi ông Phê-rô khám phá ra Đức Giê-su là ai, lập tức Người trao cho ông trách nhiệm đặc biệt quan trọng : “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy.” Lúc nãy, chúng ta thấy danh xưng Con Người không chỉ là một cá nhân đơn độc, nhưng là một dân tộc. Đức Giê-su xây dựng Hội Thánh của Người dựa trên cái gì ? Thưa dựa trên niềm tin của ông Phê-rô, người được Chúa Cha mặc khải điều vô cùng quan trọng : “Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.”

“Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời.”

Chìa khoá cũng như cầm buộc, tháo cởi là những từ chuyên biệt mượn ở Do-thái giáo để nói lên quyền của thánh Phê-rô nhận vào hay loại khỏi Nước Trời, quyền đưa ra những quyết định giáo lý hoặc pháp lý, cho phép hay cấm chỉ để điều hành trong cộng đoàn, trong lãnh vực đức tin và luân lý. Những lời hứa này không chỉ là hứa cho cá nhân ông Phê-rô, mà cho cả các đấng kế vị ngài, bởi vì Hội Thánh phải tồn tại cho đến tận thế.

Thánh Gia-cô-bê đã nói, đức tin không việc làm là đức tin chết. Vậy ta hãy tuyên xưng đức tin không chỉ trên miệng, nhưng còn bằng việc làm cụ thể trong đời sống thường ngày : yêu thương và giúp đỡ mọi người.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, xin ban thêm đức tin cho chúng con, xin Chúa củng cố đức tin còn yếu kém của chúng con.

Tự vấn :

Trong đời sống thường ngày, chúng ta đã sống đức tin như thế nào ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Thầy là Đấng Mê-si-a, Con Thiên Chúa hằng sống”

(Mgr. L. Daloz, trong cuốn “Le Règne de Dieu est approché”, Desclée de Brouwer 1993, tr. 237-238).

Đức Giê-su không chỉ là một tôn sư khởi xướng một trào lưu tâm linh ; Người không phải một ngôn sứ được sai đến để cảnh tỉnh hoặc kêu gọi người ta trưởng thành với Giao ước. Sự nhận biết Đức Giê-su vượt quá điều đó. Với những kẻ Chúa gọi và đã đi theo Người, Chúa đặt câu hỏi : “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai ?” Người cũng hỏi chúng ta câu đó. Người muốn chúng ta tiến tới, phát huy trong việc khám phá ra bản ngã đích thực của Người. Ta không thể tự thoả mãn khoác cho Người những mong ước của ta, hoặc phóng lên Người những ước vọng của ta. Cần phải đi xa hơn những ý kiến của những con người, cần lột bỏ những ấn tượng hời hợt, cần chấp nhận rằng không thể nắm bắt và không thể tóm gọn Người vào những ý tưởng và những ước muốn của ta. Như ta đã thấy đó, có một hiểu biết về Đức Giê-su theo cách loài người : “Người ta nói Con Người là ai ?” Từ thời Thượng Cổ, trải qua giai đoạn lịch sử đã có rất nhiều câu giải đáp. Những giải đáp ấy vừa không vô nghĩa, vừa không đáng coi thường. Nhưng sự hiểu biết đích thực không chỉ của loài người đâu – Nó là do Thiên Chúa ban cho : “Không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha” (Mt 11,27). Bởi vậy Đức Giê-su nói cho ông Phê-rô biết do đâu ông có sức lực nhận biết và tuyên xưng đức tin của ông : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.” Một con người, con người dùng chính miệng mình để nhận quyền do Thiên Chúa, quyền ban cho kêu chính xác danh Đức Giê-su. Lời tuyên xưng của ông đã trở thành tiêu chuẩn cho các môn đệ Chúa mọi thời đại. Nhưng lời tuyên xưng đó đã không tránh cho ông chối Chúa ba lần. Ông vẫn còn là con người phàm tục, còn mang tính người với những ưu và khuyết điểm của con người. Tuy nhiên ông được chọn để đáp câu hỏi của Đức Giê-su và để làm điều đó, ông nhận được mặc khải do Chúa Cha ban. Từ đó ông trở nên tiêu chuẩn về sự chính xác cho mọi lời tuyên xưng đức tin và cho sự nhận biết chính xác về Thiên Chúa. Nhờ ông mà người tín hữu có thể vượt xa ngoài tầm vóc của dư luận. Đức tin của ông nâng đỡ đức tin của chúng ta.

2. “Con là Đá”

(J. Potin trong cuốn “Jésus, l’histoire vraie”, Centurion, 1994, tr. 322).

Hội Thánh của Đức Giê-su, ở đây Người kêu là “Hội Thánh của Người”, được xây dựng trên nền tảng là đức tin vào thiên tính của Người. Hội Thánh đó chỉ một mảng dân Ít-ra-en chấp nhận đi vào Giao ước mới. Ông Si-môn, do việc tuyên xưng, đã trở nên viên đá tảng, trên đó Đức Giê-su xây “Hội Thánh của Người” bởi vì Hội Thánh đó là cộng đoàn những kẻ tin rằng Đức Giê-su là Thiên Chúa. Ông nhận được tên mới : Kê-pha, Đá – Quyền lực của tử thần (dịch theo chữ : quyền lực hoả ngục), nghĩa là mọi thế lực nhằm chống lại sự thiết lập vương quốc, không có sức phá đổ Hội Thánh đó. Mà ngược lại, Đức Giê-su sẽ ban cho Hội Thánh của Người quyền và thế mà Người thi hành ở trong tay Người. Thiên Chúa công nhận Hội Thánh của Con của Người chính thức là dụng cụ đặc trưng để điều hành vương quốc của Người giữa loài người. Những phán quyết và nghị định của Hội Thánh này được Thiên Chúa công nhận là do Chúa ban hành.

Phải chăng Đức Giê-su phán những lời này trong khi đi đường lên Giê-ru-sa-lem ? Có nhiều nhà chú giải đặt những lời này sau biến cố Phục Sinh, trong một cuộc hiện ra. Thật vậy, trước khi Chúa chết, từ “Hội Thánh” chỉ thấy xuất hiện có một lần duy nhất ở Mt 18,17 nói về đời sống của cộng đồng Ki-tô hữu.

Lời tuyên bố với ông Phê-rô xem ra diễn tả cách Hội Thánh sơ khai hiểu về chính mình : Hội Thánh tuyên xưng rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, là Con Thiên Chúa. Ông Si-môn Phê-rô đã là phát ngôn viên của lời tuyên xưng. Lời tuyên bố cũng có liên hệ với việc đổi tên Si-môn ra Kê-pha : Đá. Trong tiếng A-ram, Đá không phải là một tên riêng. Tên mới này chỉ tính cách vững bền của đá tảng mà người ta có thể an tâm xây trên đó … Phê-rô là đá tảng mà Đức Giê-su sẽ xây Hội Thánh của Người. Do đó, Người sẽ trao cho ông địa vị ưu tiên trên Nhóm Mười Hai. Ông được Hội Thánh nhìn nhận dưới cái tên mới và coi như quên hẳn cái tên cũ kia.

Suy niệm (Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)

I. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến 

Trong anh chị em đang hiện diện ở đây, có người làm cha, có người làm mẹ, có người làm con… người nào cũng có trách nhiệm trong gia đình.

Ðối với giáo xứ, có người được giao trọng trách trong Hội đồng giáo xứ, trong ban trị sự khu xóm, trong các giới các đoàn thể. Những người khác không có chức tước, nhưng cũng có trách nhiệm xây dựng giáo xứ và Hội Thánh. Ai cũng có trách nhiệm.

Ðối với xã hội và đất nước cũng thế. Không ai được quyền chỉ lo cho mình hoặc chờ người khác lo cho mình. Ai ai cũng có trách nhiệm với người khác.

Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy xin Chúa giúp mỗi người chúng ta ý thức trách nhiệm của mình, và xin Ngài giúp sức để chúng ta chu toàn trách nhiệm ấy.

II. Gợi ý sám hối

  • Chúng ta thiếu sót rất nhiều về trách nhiệm đối với gia đình.
  • Chúng ta còn thiếu sót hơn nữa trong trách nhiệm đối với xã hội và Hội Thánh.
  • Nhất là chúng ta có khuynh hướng ích kỷ, lo cho bản thân nhiều hơn lo cho người khác.

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I (Is 22,19-23)

Thời vua Êdêkia làm vua nước Giuđa (thế kỷ thứ 8 trước công nguyên), Sobna làm quan cai đền thờ. Vì ông này không xứng đáng nên bị cách chức, và chức vụ này được trao cho một người khác tên là Êliakim.

Những điều đáng chú ý trong chuyện này là:

  • Chính Thiên Chúa trao trách nhiệm cho con người: mặc dù Êliakim phục vụ cho vua Êdêkia, nhưng trách nhiệm của Êliakim không phải do vua trao, mà do chính Thiên Chúa.
  • Khi Thiên Chúa trao trách nhiệm cho ai thì Ngài cũng ban cho người đó những trợ giúp cần thiết để có thể chu toàn trách nhiệm: Ngài trao cho Êliakim “áo choàng” và “đai lưng”, tức là những thứ bề ngoài để người lãnh trách nhiệm có một tư cách được người ta nhìn nhận; Ngài cũng trao cho Êliakim “chìa khóa”, nghĩa là thẩm quyền để hành xử trong phạm vi trách nhiệm của mình; Ngài còn hứa “sẽ đóng nó vào nơi kiên cố như đóng đinh”, nghĩa là che chở, trợ giúp để ông thi hành trách nhiệm.

2. Ðáp ca (Tv 137)

Lời cầu xin Chúa cho kẻ khiêm nhường đang chăm lo công việc Chúa giao: “Lạy Chúa, xin đừng bỏ rơi công cuộc tay Chúa”.

3. Tin Mừng (Mt 16,13-23)

Ðức Giêsu trao cho Phêrô “chìa khóa Nước Trời”, nghĩa là ông được làm người quản trị của Hội Thánh mà Ngài sẽ thành lập. Việc trao trách nhiệm này có một số điều đáng ta lưu ý:

  • Phêrô được giao trách nhiệm sau khi tuyên xưng niềm tin vào Ðức Giêsu: “Thầy là Ðức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”. Người lãnh trách nhiệm của Chúa phải có đức tin vào Chúa.
  • Ðức Giêsu bảo đảm rằng Thiên Chúa sẽ hỗ trợ cho trách nhiệm của Phêrô: “Ðiều gì con cầm buộc trên trời cũng cầm buộc; điều gì con tháo cởi trên trời cũng tháo cởi”.
  • Tuy nhiên người lãnh trách nhiệm không hẳn là người hoàn toàn xứng đáng, thánh thiện: vừa được trao trách nhiệm cao cả, đã can gián Chúa chịu nạn chịu chết và bị Ngài quở trách nặng lời: “Satan, hãy lui ra đàng sau Thầy”.

4. Bài đọc II (Rm 11,33-36) (Chủ đề phụ)

Thánh Phaolô ca tụng sự khôn ngoan vô cùng của Chúa: “Ôi thẳm sâu thay sự giàu có, thượng trí và thông biết của Thiên Chúa. Sự phán quyết của Người làm sao hiểu được, và đường lối của Người làm sao dò được”

IV. Gợi ý giảng

1. Mỗi người chúng ta cũng là một viên đá sống động

Bài Tin Mừng hôm nay kể rằng Thánh Phêrô đã được Ðức Giêsu chọn làm tảng đá để xây dựng Hội Thánh của Ngài trên đó. Nhưng ngoài tảng đá Phêrô, Chúa còn xây dựng Hội Thánh của Ngài trên tảng đá nào khác nữa không ? Ðây là một câu hỏi thú vị. Câu hỏi thú vị này lại có câu trả lời thú vị không kém, mà lại là câu trả lời của chính tảng đá Phêrô: Thưa có, mỗi kitô hữu cũng là một viên đá để xây dựng Hội Thánh. Nguyên văn câu nói của Phêrô trong thư thứ nhất của ngài là: “Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên Ðền thờ thiêng liêng” (1 Pr 2,5)

Như thế, thánh Phêrô không dành độc quyền xây dựng Hội Thánh mà chia quyền ấy cho mọi kitô hữu. Công đồng Vaticanô II cũng nói không khác với Phêrô: mọi kitô hữu đều có sứ mạng xây dựng Hội Thánh, mỗi người trong cương vị của mình, hoàn cảnh của mình và theo khả năng của mình.

Có một bài cầu nguyện rất đặc biệt mà tôi đã đọc trong một quyển sách. Tôi không còn nhớ tựa đề quyển sách đó, cũng không nhớ tên tác giả, nhưng vẫn nhớ nội dung lời cầu nguyện ấy mặc dù không nhớ kỹ từng lời. Ðó là lời cầu nguyện của một viên gạch. Viên gạch này nằm sát chân tường. Ðôi khi nó nhìn lên những viên gạch khác và trong lòng nó chợt nảy ra những so sánh, những ước ao, và nó cầu nguyện như sau:

Lạy Chúa, con chỉ là một viên gạch tầm thường nằm sát dưới chân tường.
Con không được như viên gạch xây cửa, ở ngay tầm mắt người ta.
Con không được như viên gạch xây mặt tiền, hãnh diện nhìn người qua kẻ lại và sung sướng được người ta khen đẹp.
Con không được như viên gạch trong phòng khách, hàng ngày được người ta lau chùi đánh bóng.
Con chỉ là một viên gạch tầm thường nằm sát chân tường
.

Nhưng viên gạch ấy suy nghĩ, rồi nó cầu nguyện thêm:

Nhưng lạy Chúa, con vui vì chỗ ở của con, con vui với nhiệm vụ của con. Con mừng vì con cũng có góp phần trong ngôi nhà xinh đẹp này. Không có phần nhỏ bé và âm thầm của con thì bức tường sẽ đổ, ngôi nhà sẽ sập. Mặt tiền xinh đẹp kia không còn, cánh cửa xinh đẹp kia không còn, phòng khách xinh đẹp kia cũng không còn.

2. Xây nhà trên đá

Bài Tin Mừng về việc Chúa chọn Phêrô làm đá tảng xây dựng Hội Thánh khiến ta liên tưởng tới một đoạn Tin Mừng khác, Ðức Giêsu nói về việc xây nhà trên đá (Mt 7,24-27).

Xây nhà trên đá là gì ? Thưa là biết lắng nghe Lời Chúa và nhất là sau đó đem Lời Chúa ra thi hành. Ðức Giêsu bảo người đó là người khôn. Còn kẻ nào không lắng nghe Lời Chúa và nhất là không thi hành lời Chúa thì giống như người ngu xây nhà trên cát.

Mỗi người chúng ta đều có trách nhiệm xây dựng Hội Thánh, xây dựng giáo xứ, xây dựng xã hội và xây dựng gia đình. Việc xây dựng đầu tiên, làm nền tảng cho mọi cuộc xây dựng tiếp theo, chính là nỗ lực lắng nghe và sống Lời Chúa.

3. Ðừng là gánh nặng cho nhau, mà hãy là đá để thành chỗ dựa cho nhau

Trong cuộc sống chung, khi mọi việc đều êm xuôi tốt đẹp thì hòa thuận yêu thương nhau rất là dễ, hạnh phúc như đang bao bọc chung quanh mình. Nhưng khi khó khăn xảy đến thì mọi người đều buồn phiền, bực bội, gắt gỏng… Một chuyện nhỏ cũng có thể gây nên một xung đột lớn. Tại sao thế ?

Thưa vì trong những lúc khó khăn như thế, người ta chỉ còn nghĩ đến nỗi khổ của mình mà không còn nghĩ đến người khác, người ta chỉ nhớ rằng người khác phải có trách nhiệm với mình mà quên rằng mình cũng có trách nhiệm với người khác.

Ai nấy cũng đã khổ rồi, sao còn vô tình làm khổ nhau thêm ? Phải chi mỗi người nhớ đến trách nhiệm của mình để đến an ủi người khác, san xẻ gánh nặng của người khác, và trở thành chỗ dựa cho người khác thì tốt hơn biết mấy!

Hạnh phúc không phải do thụ động chờ mà tới. Hạnh phúc phải do con người xây dựng, người này xây dựng cho người kia, mọi người xây dựng cho nhau.

4. Chuyện minh họa

a/ Trách nhiệm âm thầm

Có một người làm công, ngày ngày đi quét lá rừng rụng xuống, gom lại một nơi rồi hốt đi. Một hôm một đoàn người lên rừng chơi, thấy người quét lá họ rất đỗi ngạc nhiên, và họ càng ngẩn ngơ khi biết rằng chính Hội đồng Thành phố đã thuê với số lương 7000 đồng một tháng.

Sau một hồi vãng cảnh, đoàn người trở về. Một số người tìm đến ông Chủ tịch Hội đồng thành phố đề nghị hủy bỏ phụ khoản chi tiêu cho việc quét lá rừng vì quá vô ích. Ông Chủ tịch cũng như Hội đồng chẳng hiểu căn do của phụ khoản kia, vì họ chỉ làm theo truyền thống, nên cuối cùng quyết định không thuê người quét lá rừng nữa.

Ngay giữa thành phố có một cái hồ rộng lớn, nước trong xanh, cây to in bóng mát, người qua lại dập dìu. Mọi người ca tụng nó là viên ngọc trai điểm trang cho thành phố. Nhưng lạ thay, một tháng sau ngày người quét lá rừng nghỉ việc, nước hồ trở nên đục ngầu bẩn thỉu, không còn thấy bóng người hóng gió ngoạn cảnh, quán xá bên bờ hồ vắng tanh… Cả thành phố trở nên buồn tẻ mà không hiểu tại đâu. Hội đồng Thành phố nhóm ngay phiên họp bất thường để tra xét hiện tượng trên. Và sau cùng họ tìm ra nguyên nhân: do người phu quét là rừng nghỉ việc nên lá rừng rụng xuống, gió đùa lá bay tứ tung trên mặt đường, rồi rơi xuống hồ nước trong xanh, gây nên tình trạng ô nhiễm…

Và ngay hôm đó họ tái dụng người phu quét lá với số lương còn cao hơn xưa. (Trích “Phúc”)

b/ Trung thành với trách nhiệm

Một ngày nọ vào năm 1780 bỗng dưng cả vùng tiểu bang Connecticut bị tối hẳn lại. Ai nấy đều cho rằng đã đến ngày tận thế. Khi đó Hội đồng lập pháp tiểu bang đang họp. Nhiều người yêu cầu hoãn cuộc họp để họ có thể về nhà cùng với gia đình chờ Chúa đến. Nhưng ông chủ tịch nói: “Không biết hôm nay có phải là ngày tận thế hay không. Nếu không thì không cần hoãn họp. Còn nếu phải thì chúng ta càng cần chu toàn nhiệm vụ hơn nữa. Xin thắp nến lên” (Drinkwater).

V. Lời nguyện cho mọi người

Chủ tế:

Anh chị em thân mến 

Chúa Giêsu thiết lập Hội Thánh để tiếp tục công cuộc cứu độ của Người. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin

1. Ðức Thánh Cha là đấng kế vị Thánh Phêrô / và thay mặt Chúa Giêsu / hướng dẫn dân Chúa trên đường lữ thứ trần gian / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa luôn gìn giữ Người khỏi mọi hiểm nguy / và giúp đỡ Người chu toàn trọng trách của mình.

2. Các Ðức Giám mục là những đấng kế vị các thánh tông đồ / là thầy dạy chân lý cho các kitô hữu / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa luôn soi sáng / hướng dẫn / và nâng đỡ các ngài trong đời sống mục vụ / vốn đầy dẫy những khó khăn và đau khổ.

3. Tuyên xứng đức tin phải là việc làm thường xuyên của những người tin Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa cho các kitô hữu / luôn hiên ngang sống đức ái đã lãnh nhận / bất chấp những thử thách cam go trong cuộc sống thường ngày.

4. Bổn phận của người kitô hữu là luôn yêu mến / vâng lời / và bênh vực Hội Thánh / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / luôn trung thành với Hội Thánh / mến yêu hàng giáo phẩm / nhất là biết tích cực cộng tác với các ngài trong việc xây dựng nhiệm thể Chúa Kitô.

Chủ tế: Lạy Chúa, theo Thánh Gioan Tông đồ, tin không phải là tuân giữ một số điều răn, nhưng là gắn bó và dấn thân theo Chúa. Xin cho tất cả chúng con biết cố gắng sống trọn vẹn niềm tin mà thánh Gioan đã nhắc nhở chúng con. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

VI. Trong Thánh Lễ

– Trước kinh Lạy Cha: Trong kinh Lạy Cha hôm nay, khi đọc câu “Xin cho Nước Cha trị đến”, chúng ta hãy tha thiết cầu xin Chúa giúp mỗi người chúng ta biết nghĩ đến trách nhiệm của mình trong việc xây dựng Nước Chúa.

VII. Giải tán

Chúng ta đã ý thức trách nhiệm của mình đối với Hội Thánh, xã hội và gia đình. Anh chị em hãy ra về và cố gắng chu toàn những trách nhiệm ấy.

 

Suy niệm (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

NHẬN LÃNH TRÁCH NHIỆM CHÚA TRAO

A. DẪN NHẬP

 Chúa nhật 21 hôm nay giúp chúng ta hướng lòng về Mầu nhiệm Hội thánh. Công đồng Vatican II gọi “Hội thánh là Dân Thiên Chúa”, một dân có tổ chức hẳn hoi, một Hội có đầy đủ các đặc tính của nó. Hội thánh được coi như một gia đình, trong đó mỗi người đóng một vai trò hoặc lớn hoặc nhỏ, nhưng mọi người đều có trách nhiệm phải bảo vệ và xây dựng gia đình đó.

 Trong số các hồng ân Chúa ban cho loài người, Hội thánh chắc hẳn là hồng ân quí giá nhất. Chính Hội thánh có nhiệm vụ tiếp tục công trình của Đức Kitô và ban cho chúng ta những đặc ân Người mang đến. Chính Hội thánh làm cho Chúa Kitô hiện diện giữa chúng ta. Chúng ta hãy tìm hiểu Hội thánh, để thêm lòng yêu mến và cố gắng làm tròn nhiệm vụ của chúng ta đối với Hội thánh.

 Chúng ta là những thành viên trong Hội thánh. Đã là thành viên thì mỗi người đều có quyền lợi và bổn phận, bởi vì quyền lợi và bổn phận phải đi liền với nhau. Chúng ta đã được lãnh nhận nhiều ơn Chúa qua Hội thánh, thì chúng ta cũng phải có bổn phận bảo vệ và xây dựng Hội thánh. Tuy mỗi người chỉ là một thành phần nhỏ nhưng cũng quan trọng, bởi vì một ngôi nhà được xây dựng lên phải bao gồm nhiều yếu tố, nhiều chất liệu mà thiếu một yếu tố nào thì ngôi nhà ấy chưa được hoàn hảo. Hội thánh là một ngôi nhà chung, mỗi người phải có trách nhiệm góp phần vào việc xây dựng ngôi nhà đó.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1: Is 22, 19-23

 Lời tiên tri của Isaia hôm nay nói về việc truất phế một vị quan coi đền thờ là Sobna, dưới triều vua Ezechia, vì ông này có những hành vi nhũng lạm. Ông này không xứng đáng, nên chức vụ này được trao cho người khác là Êliakim, ông này sẽ lo quyền lợi chung và sẽ là người cha cho dân của ông.

 Mặc dù Êliakim phục vụ cho vua Ezéchia, nhưng trách nhiệm của Eliakim không phải do vua trao, mà do chính Thiên Chúa. Ngài trao cho Eliakim “chìa khóa”, nghĩa là thẩm quyền để hành xử trong phạm vi trách nhiệm của mình. Ngài còn hứa sẽ che chở, trợ giúp để ông thi hành trách nhiệm được giao phó.

+ Bài đọc 2: Rm 11,33-36

 Trong thư gửi cho tín hữu Rôma, thánh Phaolô ca tụng sự khôn ngoan vô cùng của Thiên Chúa. Đường lối của Ngài không ai hiểu thấu, vì mọi vật đều do Ngài mà có, nhờ Ngài mà tồn tại. Chúng ta chỉ biết ca ngợi tình thương của Chúa đối với chúng ta, và cố gắng sống theo đường lối và thánh ý của Ngài: Xin tôn vinh Thiên Chúa đến muôn đời.

+ Bài Tin mừng: Mt 16,13-20

 Sau khi các Tông đồ cho Chúa Giêsu biết dư luận của dân chúng về Ngài, thì Chúa Giêsu lại hỏi chính các ông xem các ông bảo Ngài là ai ? Thánh Phêrô đã thay cho các ông khác mà tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Chúa Giêsu đã chấp nhận lời tuyên xưng ấy và để đáp lại, Ngài đã đặt Phêrô làm thủ lãnh Hội thánh, tượng trưng cho tước vị và quyền hạn này là việc trao chìa khoá.

 Như vậy, thánh Phêrô và những người kế vị đã nhận được nhiệm vụ tiếp tục sứ mạng của Chúa Kitô điều khiển Hội thánh, là dân Thiên Chúa. Ngài còn hứa sẽ bảo trợ thánh Phêrô và các Đấng kế vị trong chức vụ mình, và bảo đảm với các vị là Hội thánh của Ngài luôn bền vững, không một quyền lực nào có thể phá nổi.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA: Hội thánh của Chúa Kitô

I. HỘI THÁNH VÀ VIỆC TRAO QUYỀN BÍNH

1. Xây dựng Hội thánh

 Sau khi Phêrô đã tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, Chúa Giêsu liền thưởng cho ông: “Phêrô, con là Đá, trên Đá này Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy”.

 Con là Đá”: Đá ở đây vừa là tảng đá vừa là tên mới của Simon. Trong Kinh thánh, khi trao nhiệm vụ đặc biệt cho một nhân vật nào, thì Thiên Chúa thường đổi tên người đó (St 17,5-15; 35,10; Tv 13,16; 2V 23,34). Việc đổi tên như vậy cho thấy có mối liên hệ mới mẻ giữa người đổi tên và kẻ được đổi tên. Quả vậy, khi đổi tên Simon là Phêrô (Đá), Chúa có ý chỉ Phêrô sẽ là Đá tảng vững chắc, trên đó Người sẽ xây Hội thánh của Người. Tất nhiên đây chỉ là tảng đá hữu hình của Hội thánh, còn đá vô hình là Chúa Giêsu (1Cr 3,10-11; 1Pr 2,6-8).

 Qua đặc tính tự nhiên của đá, ta có thể hiểu về đặc tính của Hội thánh. Đá có đặc tính:

          * Cứng: nói lên sức mạnh của Hội thánh.

          * Bền: nói lên sự trường tồn của Hội thánh.

          * Chắc: nói lên sự vững bền của Hội thánh.

 Vì thế Phêrô quả là nền tảng của Hội thánh (Lm. Trần Hữu Thành, Suy niệm Tin mừng CN, năm A, tr 257)

 Hội thánh là chính Chúa Giêsu tiếp tục sống giữa chúng ta. Qua các thời đại, cũng có những người lớn tiếng hô hào rằng: Hội thánh đã đến ngày tận số! Nhưng Hội thánh vẫn còn tiếp tục qua 2000 năm nay và vẫn còn tiếp tục. Chúng ta hãy nghe một số phát biểu:

 Năm 305, hoàng đế Dioclesianô ra lệnh đúc tiền với dòng chữ: Để kỷ niệm ngày đạo Kitô bị tiêu diệt.

 Năm 1758, Voltaire nói tiên tri: hai mươi năm nữa đạo Công giáo sẽ hết đời.

 Năm 1850, P. Proudhon quả quyết: các người đạo đức hãy lo giấy thông hành trước đi. Mười năm nữa sẽ không còn vị linh mục nào để xức dầu cho đâu.

 Và năm 1904, Combes tuyên bố: ba tháng nữa bọn giáo sĩ phản động sẽ bị tiêu diệt.

 Đời nào cũng có những người cao hứng muốn làm nhà tiên tri, để phê phán về số mạng của Hội thánh. Nhưng bây giờ họ ở đâu ? Họ đã chết. Hội thánh vẫn còn sống, sống mạnh, sống mãi, sống vững vàng. Thánh Augustinô nói: “Họ nhìn thấy Hội thánh, họ nói: Hội thánh sẽ chết, giáo dân đã đến ngày tận số. Nhưng tôi thấy họ chết mỗi ngày, mà Hội thánh vẫn tồn tại để rao giảng quyền lực của Thiên Chúa cho các thế hệ nối tiếp nhau”.

2. Phêrô được trao quyền lãnh đạo

 Sau khi Chúa Giêsu tuyên bố sẽ lập Hội thánh trên nền tảng là Phêrô, Chúa Giêsu liền ban quyền lãnh đạo cho ông: “Thầy sẽ trao cho con chìa khóa Nước trời, dưới đất con cầm buộc điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, con tháo cởi điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy” (Mt 16,19).

 Không còn nghi ngờ gì nữa, Đức Giêsu đã tuyển chọn và tấn phong Phêrô làm thủ lãnh của Hội thánh. Ngài xây dựng Hội thánh của Ngài trên tảng đá Phêrô, và hứa sẽ bảo vệ Hội thánh khỏi mọi tấn công của tử thần. Ngài còn trao cho Phêrô chìa khóa Nước trời, tượng trưng cho quyền bính trên trời dưới đất. Với quyền tối thượng này, Phêrô sẽ cai quản, giáo huấn và thánh hoá Hội thánh của Đức Kitô trong tinh thần phục vụ và yêu thương, sẵn sàng hiến mình cho đoàn chiên đã được trao phó.

II. SỨ MẠNG LÃNH ĐẠO HỘI THÁNH

 Hội thánh được Công đồng Vatican II gọi là “Dân Thiên Chúa”. Đã là một dân thì phải có tổ chức hẳn hoi. Chúa Giêsu đã lập một hội giáo. Hội đó là một hội hoàn toàn, có người chỉ huy và có kẻ phục tùng, không phải cá mè một lứa, theo hình thức quân chủ theo nghĩa một người có trọn quyền chỉ huy. Hội đó có đủ các quyền hành của một hội hoàn toàn: có quyền cai trị, quyền giáo huấn và quyền thưởng phạt. Các quyền này nhận thẳng từ Đấng sáng lập không chịu quyền của trần gian.

 Như chúng ta đã biết, Chúa Giêsu đã thiết lập Hội thánh không rõ từ lúc nào, các nhà thần học chưa đồng ý với nhau, nhưng biết chắc chắn rằng Chúa Giêsu đã thiết lập và trao quyền lãnh đạo Hội thánh cho thánh Phêrô: “Thầy trao cho con chìa khóa Nước trời, dưới đất con cầm buộc điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy, dưới đất con tháo cởi cái gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy”. Do đó, thánh Phêrô là vị Giáo hoàng tiên khởi, rồi các vị khác tiếp tục thay phiên nhau mà cai trị Hội thánh. Các ngài cũng chỉ là con người như mọi người, nhưng được Chúa Giêsu tuyển chọn, để thay quyền Ngài mà cai trị Hội thánh. Các ngài là những vị đại diện của Chúa Kitô ở trần gian.                        Truyện: ĐGH Gioan-Phaolô II

 Một tờ báo Ý đã tiết lộ một tin quan trọng về ĐGH Gioan-Phaolô II. Tờ báo cho biết, khi Đức Giáo hoàng còn là sinh viên du học tại Rôma, một hôm đã cùng với các bạn đi thăm cha đáng kính Piô, một Linh mục được Chúa in 5 dấu thánh. Vừa gặp, Cha Piô ôm chầm lấy ngài và nói rằng: một ngày kia Cha sẽ làm Giáo hoàng và sẽ chịu đau khổ, máu sẽ chảy. Cha Wojtyla trả lời: “Điều ấy tôi không sợ, vì tôi sẽ không bao giờ làm Giáo hoàng”. Nhưng thánh ý Chúa nhiệm mầu! Cha Wojtyla đã làm Giáo hoàng và máu đã chảy trong cuộc mưu sát ngày 13.10.1981 tại công trường thánh Phêrô. Gioan-Phaolô II là vị Giáo hoàng thứ 264, từ ngày vị Giáo hoàng tiên khởi là thánh Phêrô được Chúa trao quyền tối thượng (Lm. Hồng Phúc, Suy niệm lời Chúa, năm A, tr 128).

Giáo hoàng là vị Cha chung
Cầm quyền thống trị với lòng yêu thương.

Chúa Giêsu xây dựng Hội thánh trên Tảng đá Phêrô. Đá là một vật cứng, nhưng người ta thường nói: “Nước chảy đá mòn” nên tảng đá Phêrô có thể bị sứt mẻ, nhưng không bị vỡ tan. Điều đó nói lên sự yếu đuối của Phêrô. Mặc dù ông đã hứa với Chúa: “Dầu tất cả có vấp phạm vì Thầy đi nữa, thì con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã” (Mt 26,33). Và ngay đêm sau đó, không ai bắt ông phải chết, không ai ra tay tra khảo, chỉ có mấy người đầy tớ gặng hỏi, ông đã thốt lên những điều độc địa và thề rằng: “Tôi không biết người ấy” (Mt 26,74).

Thế là đã rõ, Chúa Giêsu đã không chọn một vị thánh để dẫn dắt Hội thánh của Ngài, mà đã chọn một dân chài, ít học, nóng nảy, bộc trực, sa ngã và… phản bội. Vượt lên những khuyết điểm, sai lầm và yếu đuối của Phêrô, hẳn Chúa Giêsu đã nhìn thấu suốt tâm can của Phêrô một tâm tình khiêm tốn sâu thẳm và một lòng sám hối chân thành.

Thật vậy, trước đây trong bữa tiệc ly Chúa Giêsu đã tâm sự với các môn đệ: “Đêm nay tất cả các con sẽ vấp ngã vì Thầy” (Mt 26,21) thì Phêrô không thể nào tin được. Ông quả quyết với Chúa: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mt 26,35). Nhưng “ngay lúc ông còn đang nói, thì gà gáy. Chúa Giêsu quay lại nhìn Phêrô” (Lc 22,60). Ánh mắt của Chúa nhìn thấu tâm hồn ông làm cho ông đau nhói. Ông rút lui ra ngoài, tan nát cõi lòng, bước đi nặng trĩu.

Ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết vì lầm lỗi của mình: tại sao mình lại phản bội Thầy ? Lúc này Phêrô mới nhận thấy mình không còn là tảng đá vững chắc nữa, mà mình chỉ là cát bụi, mình yếu đuối dễ sa ngã, không còn cậy vào sức mình như trước nữa, mà phải hoàn toàn trông cậy vào sự nâng đỡ của Chúa. Gương sa ngã của thánh Phêrô làm cho chúng ta nhớ đến lời khuyên của thánh Phaolô: “Ai đang đứng, ý tứ kẻo ngã”. Cái cột trụ Hội thánh đã đổ thì những cột khác có đứng vững không ?

Tuy thế, ông Phêrô cố quên đi quá khứ tội lỗi, để hướng tới tương lai của ơn thánh: cảm nghiệm sâu xa của lòng Chúa khoan dung tha thứ. Với kinh nghiệm bản thân đã kinh qua, sau này thánh Phêrô đã khuyên bảo các tín hữu của mình: “Vậy anh em hãy sám hối và trở lại cùng Thiên Chúa, để Người xoá bỏ tội lỗi cho anh em” (Cv 3,19).

III. SỨ MẠNG XÂY DỰNG HỘI THÁNH

 Trong bài TM hôm nay, Chúa Giêsu đã chọn thánh Phêrô là Tảng đá để Ngài xây dựng Hội thánh trên đó. Hội thánh này phải vững chắc, vì xây nhà trên nền đá thì phải vững chắc, không sợ mưa sa bão táp (x. Mt 7,24-27).

 Hội thánh được xây dựng trên đá tảng Phêrô là đúng rồi, nhưng câu hỏi được đặt ra là “Chúa còn xây dựng Hội thánh của Ngài trên tảng đá nào khác nữa không ?” Thánh Phêrô đã trả lời cho chúng ta trong thư thứ nhất của ngài: “Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên đền thờ thiêng liêng” (1Pr 2,5). Như thế có nghĩa là thánh Phêrô trả lời cho chúng ta là “có”: vì mỗi Kitô hữu cũng là một viên đá để xây dựng Hội thánh.

 Như thế, thánh Phêrô không dành độc quyền xây dựng Hội thánh, mà chia quyền ấy cho mọi tín hữu. Công đồng Vatican II cũng không nói khác với Phêrô: mọi Kitô hữu đều có sứ mạng xây dựng Hội thánh, mỗi người trong cương vị của mình, hoàn cảnh của mình và theo khả năng của mình mà xây dựng.

 Hội thánh là gia bảo mà Chúa Giêsu để lại cho chúng ta qua các Tông đồ và các Đấng kế vị. Trải qua 2000 năm Hội thánh đã phải chịu bao phen sóng gió, bao cuộc bách hại nhất là tại đế quốc Rôma trong 250 năm kể từ năm 64 đến năm 313, và tại Việt Nam chúng ta trong suốt hơn 100 năm dưới triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và nhóm Văn Thân. Tuy thế Hội thánh vẫn luôn đứng vững, vì Chúa đã hứa với Phêrô là không sức mạnh nào có thể phá nổi.

 Nếu Hội thánh là di sản quí báu cha ông chúng ta đã để lại, chúng ta phải bảo vệ và xây dựng Hội thánh, đừng bao giờ để cha ông chúng ta phải than vì “Đời cha vo tròn, đời con bóp méo” (tục ngữ). Hội thánh là ai ? Hội thánh là ta, là mỗi người chúng ta. Chúng ta phải làm sao cho Hội thánh luôn mặc một vẻ đẹp và hấp dẫn trước mặt lương dân. Bảo vệ và xây dựng Hội thánh, đó là công tác của chúng ta. Hãy giữ lấy gia sản quí báu ấy, như các em thiếu nhi thường hát trong các buổi sinh hoạt giáo lý:

Cái nhà là nhà của ta
Công khó ông cha làm ra.
Cháu con hãy gìn giữ lấy
Muôn năm với nước non nhà
(Lm. Ng. Văn Thích)

 Qua 2000 năm lịch sử của Hội thánh, chúng ta thấy Hội thánh luôn được phát triển trong những hoàn cảnh thật khó khăn, có biết bao thế lực chống phá, ngăn cản việc truyền giáo, nhiều nhà truyền giáo đã phải đổ máu ra để xây dựng Hội thánh vì “Máu các thánh Tử đạo là hạt giống sinh ra các tín hữu” (Tertullianô).

Truyện: Viên đá đầu tiên

 Cho đến năm 1896, vùng Cayenne ở Saint Ouen không bao giờ thấy bóng chiếc áo dòng đen. Nhưng một ngày trong năm đó, một vị linh mục cả gan xâm nhập vào vùng ấy. Một người thấy vậy liền ném đá vào đầu linh mục. Vị linh mục cúi xuống nhặt lấy viên đá đầy máu đỏ.

– Xin cảm ơn ông, đây là viên đá đầu tiên của một đền thờ tôi muốn xây ở đây.

 Và sự thật viên đá đó là viên đá đầu tiên của đền thờ Mân Côi được xây ở đó.

 Nước Chúa trên mặt đất này là Hội thánh, cũng bắt đầu trong nhỏ hèn, trong bạc đãi như vậy. Hội thánh vẫn phát triển trong âm thầm và đau khổ. (Nguyễn Hài Đồng, Tự điển câu truyện, 1969, tr 114).

 Chúng ta luôn tin tưởng rằng: Hội thánh của Chúa luôn vững bền, mặc dầu luôn gặp muôn vàn khó khăn, vì Hội thánh là ngôi nhà được xây trên đá vững chắc. Vậy xây nhà trên đá là gì ? Thưa là biết lắng nghe Lời Chúa và nhất là biết đem Lời Chúa ra thực hành trong đời sống hằng ngày. Theo giáo huấn của Chúa Giêsu, ai xây nhà trên đá là người khôn (Mt 7,24-27), còn ngược lại, kẻ nào không lắng nghe Lời Chúa và nhất là không thực hành Lời Chúa thì giống như người ngu xây nhà trên cát bùn.

 Còn đối với các Đấng bậc trong Hội thánh, Chúa Giêsu đã muốn cho thánh Phêrô và những người kế vị trở thành lãnh đạo Hội thánh mà Ngài đã lập ra, điều này không thể chối cãi được. Bởi đó, chúng ta phải công nhận quyền uy của các Ngài, phải vâng theo lời dạy của các Ngài và làm cho nhiệm vụ của các Ngài được dễ dàng. Vâng lời các Ngài là vâng lời chính Đức Kitô. Ngài đã phán: “Ai nghe lời các con là nghe Ta”.

 Nếu người ta đang hô hào người dân phải bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, vì đó là bổn phận của mỗi công dân, thì chúng ta, mỗi người đều là công dân Nước trời, là thành viên trong Hội thánh, chúng ta cũng có nhiệm vụ phải yêu mến, bảo vệ và xây dựng Hội thánh, xây dựng giáo xứ, xây dựng xã hội và xây dựng gia đình. Việc xây dựng đầu tiên, làm nền tảng cho mọi cuộc xây dựng tiếp theo, chính là nỗ lực lắng nghe và sống Lời Chúa.

 

Suy niệm (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.)

Mt 16,13-20
KÊ-PHA, ANH LÀ TẢNG ĐÁ

Si-môn, anh là ai ?

Tôi không bén nhạy như anh môn đệ Chúa yêu,

nhưng đôi khi tôi là người đại diện để trả lời trước tiên

những câu hỏi quan trọng Thầy đặt ra cho anh em tôi.

“Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi sao ?” (Ga 6,67).

“Còn anh em, anh em nói Thầy là ai  ?” (Mt 16,15).

Tôi đã nói ngay điều mình tin: Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa.

Thật ra anh em chúng tôi đã nghĩ Thầy là Con Thiên Chúa

từ lúc Thầy đi trên mặt hồ và dắt tôi vào thuyền (Mt 14,33).

Tôi tin Thầy là Con Thiên Chúa theo một nghĩa đặc biệt

vì Thầy có tương quan độc đáo với Chúa Cha.

Chỉ mình Thầy biết Chúa Cha trong tư cách Người Con (Mt 11,27).

Tôi không nghĩ mình đã biết rõ hay biết trọn vẹn con người Thầy.

Nhưng càng sống gần Thầy tôi càng nhận ra Thầy là ai (Mt 17,5).

Phải đợi đến sau khi Thầy trải qua cái chết và phục sinh,

tôi mới thật sự tin Thầy Là Đấng Emmanuel (Mt 1,23; 28,20).

Si-môn, anh là ai ?

Tôi tên là Si-môn, tên do bố mẹ đặt cho.

Khi gặp Thầy Giêsu, Thầy đặt tên cho tôi là Kê-pha (Ga 1,42),

hay Phêrô, nghĩa là Đá Tảng, là Thạch (Mt 16,18).

Việc Thầy cho tôi một tên mới không phải chuyện ngẫu nhiên.

Thầy muốn thiết lập một cộng đoàn mới mà Thầy gọi là Giáo Hội.

Giáo Hội này là đoàn Dân Chúa thuộc tứ phương thiên hạ,

vượt mọi bức tường văn hóa, chủng tộc, quốc gia.

Tất cả sống theo giáo huấn của Thầy được ban trên Núi Bát Phúc.

Suốt đời tôi không bao giờ hiểu được

tại sao Thầy chọn tôi làm nền móng cho tòa nhà Giáo Hội của Thầy.

Thầy dạy người ta, khi xây nhà, thì xây trên đá chứ đừng xây trên cát.

Vậy mà Thầy lại coi tôi là Đá, là nền kiên cố cho tòa nhà của Thầy.

Phần tôi, tôi biết sự yếu đuối của tôi, và tôi biết quyền năng của Thầy.

Tôi đã chìm xuống nước, dù biết Thầy đang ở trước mặt.

Tôi đã kêu cứu và Thầy đã nắm lấy tôi giữa sóng cả, gió to.

Tôi biết mình là kẻ kém lòng tin, hay hoài nghi và sợ sệt.

Nếu Xatan và tử thần không thể thắng được tôi,

thì đâu phải bởi tôi, mà do có Thầy đứng sau tôi.

Si-môn, anh là ai ?

Tôi là một ngư phủ ít học, đã lập gia đình và có cuộc sống ổn định.

Tôi quen với sóng, gió, cá, thuyền và lưới.

Thầy đã gọi tôi theo Thầy, mời người ta hoán cải vì Nước Trời gần đến.

Được vào Nước Trời là ước mơ của mọi người và của tôi.

Vậy mà bây giờ Thầy lại muốn giao cho tôi chìa khóa của Nước đó.

Thầy cho tôi quyền đóng và mở cửa Nước Trời.

Tôi biết mình không phải là Vua của Nước Thiên Chúa,

Tôi chỉ là người quản gia, được trao chìa khóa Nước này,

một Nước viên mãn ở trên trời, nhưng đã bắt đầu lớn lên từ mặt đất.

Thầy cho tôi quyền trói buộc và tháo cởi, quyền quyết định bao điều

liên quan đến đức tin và luân lý của những thành viên trong Giáo Hội.

Tôi là người đã có lần chối Thầy, dù đã hứa sẽ không bỏ Thầy.

Nước mắt của tôi không đủ để làm tôi được sạch,

nhưng làm tôi khiêm tốn hơn và khoan dung hơn.

Qua bao thế kỷ, nhiều đấng đã kế vị tôi để làm nền cho Giáo Hội.

Họ là những mục tử đã tận tình chăm sóc chiên và hy sinh vì chiên.

Điều làm tôi vui sướng, đó là Thầy Giêsu đã giữ lời hứa.

Quyền lực của âm phủ không thắng được Giáo Hội.

Trời và đất vẫn ý hợp tâm đầu (Mt 16,19).

Khiếm khuyết của con người luôn được Thiên Chúa bù đắp

để ngôi nhà của Thiên Chúa vẫn đứng vững giữa cuồng phong.

 

CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa,

chúng con không hiểu

tại sao Chúa chọn Simon,

một người đánh cá ít học và đã lập gia đình

để làm vị lãnh đạo đầu tiên của Giáo Hội.

Chúa xây dựng Giáo Hội của Chúa

trên một tảng đá mong manh,

để ai nấy ngất ngây trước quyền năng của Chúa.

Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con

theo Chúa, sống cho Chúa,

đặt Chúa lên trên mọi sự:

gia đình, sự nghiệp, tương lai.

Chúng con chẳng thể nào từ chối

viện cớ mình kém đức kém tài.

Chúa đưa chúng con đi xa hơn,

đến những nơi bất ngờ,

vì Chúa cần chúng con ở đó.

Xin cho chúng con một chút liều lĩnh của Simon,

bỏ mái nhà êm ấm để lên đường,

hạnh phúc vì biết mình đang đi sau Chúa. Amen.

 

Suy niệm (Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)

Câu chuyện

Chúng tôi đang bon bon trên chiếc xe gắn máy, bỗng anh bạn của tôi bất ngờ thắng két… két, không kịp rồi, cả xe lẫn người nằm trọn trong “ổ voi ổ bò” giữa đường mà không có một biển báo hay ít ra là có dấu hiệu, tay tôi chà xuống đường, máu tuôn chảy (bây giờ vẫn còn sẹo trên tay), đầu tôi đập xuống đất (rất may sau đó chúng tôi đi chụp CT nhưng không bị chấn thương ở đầu).

Mỗi lần ra đường tôi lại sợ hãi với những con đường lồi lõm lớn nhỏ. Tôi so sánh với những đất nước tôi đi qua tham quan hay sống làm việc dài ngắn hạn (gần nhất như Manila – Philippines) đường sá xe chạy êm ả vì đường thẳng băng, êm đến nỗi nếu không có ai trò chuyện, bạn có thể ngủ gật bất cứ lúc nào cho những ai dễ ngủ. Đường không ổ gà ổ vịt, và nếu có sẽ được sửa chữa sớm nhất, ngay cả những con đường ngoằn ngoèo nhất ở vùng núi, vùng quê cũng không thấy có ổ gà ổ vịt…

Suy niệm

Nhờ tin và biểu lộ niềm tin vào Đức Kitô là Con Thiên Chúa, Simon-Phêrô được Ngài trao cho “chìa khóa nước Trời”, chìa khóa mở đóng, biểu tượng trách nhiệm cai quản Hội Thánh, trách nhiệm được Thiên Chúa luôn hỗ trợ để ông được hoàn thành: “Con là Ðá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được…” (Mt 16:18-20).

Trong xã hội nói chung, nơi tất cả các tổ chức lớn nhỏ nói riêng rất cần tinh thần trách nhiệm để bảo đảm sự hiện hữu và phát triển mưu ích cho tha nhân. Nếu mỗi người thực hiện nghiêm túc trách nhiệm của mình thì xã hội sẽ phát triển không ngừng, tổ chức, gia đình được kiến tạo và xây dựng hạnh phúc dưới góc cạnh nhân văn. Xây dựng xã hội hướng về nước Trời theo ý muốn của Thiên Chúa dưới khía cạnh của niềm tin.

Với người mang đức tin Kitô, tinh thần trách nhiệm còn là tiếng nói của niềm tin, niềm tin sống động mà Phêrô đã tuyên xưng và sống chết cả đời. Tôi và bạn cũng nhìn vào tinh thần đảm đương trách nhiệm của Phêrô, tấm gương đó cần phản chiếu ở mỗi người chúng ta, một tinh thần trách nhiệm quyết liệt trước hết cho tương lai cho chính mình, đầu tiên qua việc rèn luyện học hành nơi bản thân, kế tiếp là tinh thần làm việc trong trách nhiệm được đào tạo cho sự phát triển gia đình, sự phồn thịnh của quốc gia, của nhân loại. Chính lúc tôi sống hai chữ trách nhiệm, là lúc tôi biểu lộ đức tin vào Thầy Giêsu, Đấng đã giao trách nhiệm quản lý trần thế.

          Như Chúa Giêsu khi trao trách nhiệm cho Phêrô, Ngài đã đào tạo một cách tiệm tiến xuyên qua đời ông: Thầy Giêsu đã chuẩn bị trước cho Phêrô nhiệm vụ “chăm sóc đoàn chiên” ngay vào lúc giây phút đầu tiên ông gặp gỡ, Ngài đã gieo vào tâm hồn ông ý niệm trách nhiệm: “Anh sẽ được gọi là Phêrô” (Ga 1,42) và “trở nên kẻ chài lưới người” (Lc 5:10). Quảng đại nhiệt thành tuyên xưng “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16:17); Ý thức bản thân khi thưa với Chúa: “Lạy Chúa, xin tránh xa con vì con là kẻ tội lỗi” (Lc 5:8); Ông yếu đuối chối Thầy ba lần khi Đức Giêsu bị bắt (x.Ga 18,17-27). Với cái nhìn của đức tin và khoan dung, trong yếu đuối Chúa dạy Phêrô bài học trách nhiệm đỡ nâng: “Phần con, hỡi Phêrô, sau khi đã trở lại, con hãy củng cố các anh em của con” (Lc 22,32).

Chiêm ngưỡng hình ảnh Phêrô với niềm tin sắt son, với hai chữ trách nhiệm mang trên vai, tôi và bạn được mời gọi trong đức tin đảm đương trách nhiệm mà chúng ta được giao trong xã hội, nơi gia đình tất cả công việc lớn nhỏ, chúng ta thực thi nó với cả trái tim và hết khả năng: Dù là anh phu quét lá, là người thầy dạy học đứng trên bục giảng vì sự nghiệp trăm năm trồng người, đến các kỹ sư chuyên viên tìm tòi sáng tạo cho sự phát triển, hay nhà quản lý với ý thức trách nhiệm cộng đồng…

Chúng ta tuyên xưng đức tin vào Chúa và Người đã gọi đích danh chúng ta như gọi Phêrô, Ngài đang xây Giáo hội, xã hội hướng về Nước Trời nơi tôi và bạn đang sống và làm việc. Chúng ta không thể là đá tảng như Phêrô nhưng là những lát gạch trách nhiệm mà Thiên Chúa dùng để xây dựng nhân loại theo kiểu mẫu của nước Trời. Chính Giáo hội được xây trên đá Phêrô là hình tượng tiêu biểu.

Ý lực sống

“Chăn lạnh choàng vai, đêm chẳng ngủ.
 Suốt đời ôm mãi nỗi lo dân”
.

(Nguyễn Trãi)

 

Suy niệm (song ngữ)

21st Sunday in Ordinary Time
Reading I: Isaiah 22:15,19-23
Reading II: Romans 11:33-36

Chúa Nhật 21 Thường Niên
Bài Đọc I: Isaia 22:15,19-23
Bài Đọc II: Roma 11:33-36

Gospel
Matthew 16:13-20

13 Now when Jesus came into the district of Caesare’a Philip’pi, he asked his disciples, “Who do men say that the Son of man is ?”
14 And they said, “Some say John the Baptist, others say Eli’jah, and others Jeremiah or one of the prophets.”
15 He said to them, “But who do you say that I am ?”
16 Simon Peter replied, “You are the Christ, the Son of the living God.”
17 And Jesus answered him, “Blessed are you, Simon Bar-Jona! For flesh and blood has not revealed this to you, but my Father who is in heaven.
18 And I tell you, you are Peter, and on this rock I will build my church, and the powers of death shall not prevail against it.
19 I will give you the keys of the kingdom of heaven, and whatever you bind on earth shall be bound in heaven, and whatever you loose on earth shall be loosed in heaven.”
20 Then he strictly charged the disciples to tell no one that he was the Christ

Phúc Âm
Matthêu 16,13-20

13 Khi Đức Giêsu đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê Người hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai ?
14 Các ông thưa: “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ”
15 Đức Giêsu lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?”
16 Ông Si-mon Phê rô thưa: “ Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.
17 Đức Giêsu nói với ông: “Này anh Si-mon con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.
18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.
19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy”.
20 Rồi Người cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô.

Interesting Details

  • (v.13) Caesarea Philippi, where Peter professed that Jesus was the Messiah, is a city built by prince Philip on the slope of Mount Hermon, north of Palestine. This place was known as a place of divine revelation in the Old Testament.
  • (v.16) The term “Messiah” reflects the disciples’ hope that Jesus would deliver Israel from its enemies and establish God’s kingdom on earth.
  • Verse 16 is parallel to Mk 8:27-28. However Matthew added a further specification of Jesus’ identity as the Son of the living God.
  • The phrase the “Son of the living God” corrects any false implications present in the title Messiah. In the Jewish context, the word Messiah has for most people a very precise meaning: the coming Davidic king, the religious/political leader who would restore the power and glory of the nation of Israel. Jesus consistently refuses a political interpretation of his mission.
  • (v.18) In the New Testament, Jesus mentions Peter’s name 195 times as compared to 130 times for all the rest of Apostles.

Chi Tiết Hay

  • (c.13) Xê-da-rê Phi-lip-phê, nơi mà Phêrô đã tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, là một thị trấn xây bởi quân vương Phi-lip-phê trên sườn núi Hermon, phía bắc của Pa-lét-tin. Theo trong Cựu Ứớc, nơi này là một chỗ linh thiêng.
  • (c.16) Những từ như “Đấng Cứu Chúa” phản ảnh niềm hy vọng của các tông đồ là Chúa Giêsu sẽ giải phóng Ít-ra-en và sẽ lập nên vương quốc của Ngài trên thế gian.
  • Câu 16 đi song song với Mc 8:27-28, nhưng Thánh Mát-thêu trình bày thêm nét đặc biệt về bản ngã của Giêsu là con Thiên Chúa hằng sống.
  • Câu “Con Thiên Chúa hằng sống” làm sáng tỏ danh hiệu “Đấng Cứu Chúa”. Phần đông người Do thái chờ đợi một vị vua xuất phát từ dòng dõi Đa-vít, một người lãnh đạo cả tôn giáo lẫn chính trị để mang lại vinh quang cho nước Do thái. Chúa Giêsu luôn luôn từ chối sự gán ghép Ngài làm vua dân Do thái về phương diện chính trị.
  • (c.18) Trong Tân Ước, Chúa Giêsu đã nhắc đến tên của Phêrô 195 lần so với 130 lần tên của các tông đồ khác.

One Main Point

Peter makes his declaration of faith in Christ. Jesus appoints Peter as the leader of the Church as well as the gatekeeper of the kingdom of heaven.

Một Điểm Chính

Phêrô tuyên xưng đức tin trong Chúa Kitô. Chúa Giêsu bổ nhiệm Phêrô làm người lãnh đạo của Giáo hội và người giữ chìa khóa nước trời.

Reflections

  1. If Jesus comes and asks me who he is, how would I answer ? If someone asks me who Jesus is, how do I explain ?
  2. Jesus called Peter to be the leader of his Church. In what role does Jesus call me to be ?
  3. Imagine myself being present at Caesarea Philippi among the apostles; how does Jesus react (gesture, facial expressions, tone) to Peter’s answer ? How do the apostles react when Peter is named the leader of the Church ?
  4. Put myself in Peter’s position; what will I do for the Church ?

Suy Niệm

  1. Nếu Chúa Giêsu đến và hỏi tôi ngày hôm nay Ngài là ai, tôi sẽ trả lời ra sao ? Nếu người ta hỏi tôi Chúa Giêsu là ai, tôi sẽ giải thích như thế nào ?
  2. Chúa Giêsu gọi Phêrô làm người lãnh đạo Giáo hội, Chúa Giêsu gọi tôi trong vai trò gì ?
  3. Hình dung tôi đang hiện diện ở thành Xê-da-rê Phi-lip-phê cùng với các môn đệ. Tôi thấy Chúa Giêsu phản ứng như thế nào (cử chỉ, dung mạo, giọng nói) trước câu trả lời của Phêrô ? Phản ứng của các tông đồ như thế nào khi Chúa Giêsu bổ nhiệm Phêrô làm người lãnh đạo Giáo hội ?
  4. Tự đặt mình vào địa vị của Phêrô. Tôi sẽ làm gì cho Giáo hội ?