
Anh mù đến rửa ở hồ Si-lô-ác và khi về thì nhìn thấy được.
Bài đọc 1; 1 Sm 16,1b.6-7.10-13a
Ông Đa-vít được xức dầu tấn phong làm vua Ít-ra-en.
Bài trích sách Sa-mu-en quyển thứ nhất.
1b Thời đó, Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en: “Ngươi hãy lấy dầu đổ đầy sừng và lên đường. Ta sai ngươi đến gặp Gie-sê người Bê-lem, vì Ta đã thấy trong các con trai nó một người Ta muốn đặt làm vua.”
6 Khi ông Gie-sê và các con trai ông đến, ông Sa-mu-en thấy Ê-li-áp, ông nghĩ: “Đúng rồi! Người Đức Chúa xức dầu tấn phong đang ở trước mặt Đức Chúa đây!” 7 Nhưng Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en: “Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng.”
10 Ông Gie-sê cho bảy người con trai đi qua trước mặt ông Sa-mu-en, nhưng ông Sa-mu-en nói với ông Gie-sê: “Đức Chúa không chọn những người này.” 11 Rồi ông lại hỏi ông Gie-sê: “Các con ông có mặt đầy đủ chưa?” Ông Gie-sê trả lời: “Còn cháu út nữa, nó đang chăn chiên.” Ông Sa-mu-en liền nói với ông Gie-sê: “Xin ông cho người đi tìm nó về, chúng ta sẽ không nhập tiệc trước khi nó tới đây.” 12 Ông Gie-sê cho người đi đón cậu về. Cậu có mái tóc hung, đôi mắt đẹp và khuôn mặt xinh xắn. Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en: “Đứng dậy, xức dầu tấn phong nó đi! Chính nó đó!” 13a Ông Sa-mu-en cầm lấy sừng dầu và xức cho cậu, ở giữa các anh của cậu. Thần khí Đức Chúa nhập vào Đa-vít từ ngày đó trở đi.
Đáp ca: Tv 22,1-3a.3b-4.5.6 (Đ. c.1)
Đ.Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
1Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.2Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành3avà bổ sức cho tôi.
Đ.Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
3bNgười dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính
vì danh dự của Người.4Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u
con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.
Đ.Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
5Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù.
Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
ly rượu con đầy tràn chan chứa.
Đ.Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
6Lòng nhân hậu và tình thương Chúa
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.
Đ.Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
Bài đọc 2: Ep 5,8-14
Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào! Đức Ki-tô sẽ chiếu sáng ngươi!
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.
8 Thưa anh em, xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; 9 mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật. 10 Anh em hãy xem điều gì đẹp lòng Chúa. 11 Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng. 12 Vì những việc chúng làm lén lút, thì nói đến đã là nhục rồi. 13 Nhưng tất cả những gì bị vạch trần, đều do ánh sáng làm lộ ra; 14 mà bất cứ điều gì lộ ra, thì trở nên ánh sáng. Bởi vậy, có lời chép rằng:
Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ!
Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào!
Đức Ki-tô sẽ chiếu sáng ngươi!
Tin mừng: Ga 9,1-41
1 Khi ấy, ra khỏi Đền Thờ, Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh.
2 Các môn đệ hỏi Người: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?”
3 Đức Giê-su trả lời: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh.
4 Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng; đêm đến, không ai có thể làm việc được.
5 Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.”
6 Nói xong, Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7 rồi bảo anh ta: “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa” (Si-lô-ác có nghĩa là: người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.
8 Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói: “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?”
9 Có người nói: “Chính hắn đó!” Kẻ khác lại rằng: “Không phải đâu! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi!” Còn anh ta thì quả quyết: “Chính tôi đây!”
10 Người ta liền hỏi anh: “Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế?”
11 Anh ta trả lời: “Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo: ‘Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa.’ Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy.”
12 Họ lại hỏi anh: “Ông ấy ở đâu?” Anh ta đáp: “Tôi không biết.”
13 Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu.
14 Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát.
15 Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời: “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.”
16 Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói: “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát”; kẻ thì bảo: “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?” Thế là họ đâm ra chia rẽ.
17 Họ lại hỏi người mù: “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh?” Anh đáp: “Người là một vị ngôn sứ!”
18 Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. 19 Họ hỏi: “Anh này có phải là con ông bà không? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được?”
20 Cha mẹ anh đáp: “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh.
21 Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được.”
22 Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Thật vậy, người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô.
23 Vì thế, cha mẹ anh mới nói: “Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó.”
24 Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo: “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi.”
25 Anh ta đáp: “Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được!”
26 Họ mới nói với anh: “Ông ấy đã làm gì cho anh? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào?”
27 Anh trả lời: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng?”
28 Họ liền mắng nhiếc anh: “Có mày mới là môn đệ của ông ấy; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê.
29 Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.”
30 Anh đáp: “Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi!
31 Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy.
32 Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh.
33 Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.”
34 Họ đối lại: “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?” Rồi họ trục xuất anh.
35 Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi: “Anh có tin vào Con Người không?”
36 Anh đáp: “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin?”
37 Đức Giê-su trả lời: “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.”
38 Anh nói: “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người.
39 Đức Giê-su nói: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!”
40 Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng: “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?”
41 Đức Giê-su bảo họ: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn!”
Giáo lý cho Bài Giảng Chúa Nhật 4 mùa Chay năm A
WHĐ (18/3/2023) – Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn và đăng lại những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh thánh của Chúa nhật 4 mùa Chay năm A sự theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích.
Số 280, 529, 748, 1165, 2466, 2715: Đức Kitô là ánh sáng muôn dân
Số 439, 496, 559, 2616: Chúa Giêsu là Con Vua Đavít
Số 1216: Phép Rửa là sự soi sáng
Bài Ðọc I: Sm 16, 1b. 6-7. 10-13a
Bài Ðọc II: Ep 5, 8-14
Phúc Âm: Ga 9, 1-41
Số 280, 529, 748, 1165, 2466, 2715: Đức Kitô là ánh sáng muôn dân
280 Trước sự hiện diện cuốn hút và huyền nhiệm của Thiên Chúa, con người nhận ra sự nhỏ bé của mình. Trước bụi gai cháy bừng, ông Môsê cởi dép và che mặt trước tôn nhan Thiên Chúa chí thánh [X. Xh 3,5-6]. Trước vinh quang của Thiên Chúa ba lần thánh, tiên tri Isaia thốt lên: “Khốn thân tôi, tôi chết mất, vì tôi là một người môi miệng ô uế” (Is 6,5). Trước những dấu chỉ thần linh Chúa Giêsu thực hiện, ông Phêrô thốt lên: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” (Lc 5,8). Nhưng bởi vì Thiên Chúa là Đấng Thánh, nên Ngài có thể tha thứ cho kẻ nhận biết mình là tội nhân trước mặt Ngài: “Ta sẽ không hành động theo cơn nóng giận…, vì Ta là Thiên Chúa, chứ không phải người phàm. Ở giữa ngươi, Ta là Đấng Thánh” (Hs 11,9). Tông đồ Gioan cũng sẽ nói tương tự: “Chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa. Vì nếu lòng chúng ta có cáo tội chúng ta, Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Ngài biết hết mọi sự” (1 Ga 3,19-20).
529 Việc dâng Chúa Giêsu vào Đền thờ [X. Lc 2,22-39] cho thấy Người có tư cách là “con đầu lòng” thuộc về Thiên Chúa như sở hữu riêng của Ngài [X. Xh 13,12-13]. Cùng với ông Simêon và bà Anna, toàn thể dân Ítraen đến gặp gỡ Đấng Cứu Độ mà họ trông chờ (truyền thống Byzantin gọi biến cố này như vậy). Chúa Giêsu được nhìn nhận là Đấng Mêsia được mong đợi đã quá lâu, là “ánh sáng muôn dân”, là “vinh quang của Ítraen”, nhưng cũng là “dấu hiệu cho người đời chống báng.” Lưỡi gươm của đau khổ được tiên báo cho Đức Maria, loan báo một việc dâng hiến khác, hoàn hảo và duy nhất, là việc dâng hiến trên thập giá, việc dâng hiến này sẽ mang lại ơn cứu độ mà Thiên Chúa “đã dành sẵn cho muôn dân.”
748 “Ánh sáng muôn dân chính là Đức Kitô, nên Thánh Công đồng đang nhóm họp trong Chúa Thánh Thần hết lòng mong ước chiếu giãi trên mọi người ánh sáng của Đức Kitô, phản chiếu trên dung nhan Hội Thánh, bằng việc rao truyền Tin Mừng cho mọi thụ tạo” [CĐ Vaticanô II, Hiến Chế tín lý Lumen Gentium, 1: AAS 57 (1965) 5]. Những lời trên đây mở đầu “Hiến chế tín lý về Hội Thánh” của Công đồng Vaticanô II. Như vậy, Công đồng cho thấy đề mục đức tin về Hội Thánh hoàn toàn tùy thuộc vào những đề mục quy chiếu về Chúa Giêsu Kitô. Hội Thánh không có ánh sáng nào khác ngoài ánh sáng của Đức Kitô; Hội Thánh có thể so sánh, theo hình ảnh các Giáo phụ thích dùng, với mặt trăng, mọi ánh sáng của nó đều là phản chiếu ánh sáng mặt trời.
1165 Khi Hội Thánh cử hành mầu nhiệm Đức Kitô, có một từ luôn được nhắc đến trong kinh nguyện của Hội Thánh: đó là từ “Hôm nay”, là âm vang Lời Kinh Chúa dạy [X. Mt 6,11], và âm vang tiếng gọi của Chúa Thánh Thần [X. Dt 3,7-4,11; Tv 95,8]. Ngày “hôm nay” này của Thiên Chúa hằng sống mà con người được mời gọi bước vào, chính là “Giờ” của cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu, Giờ đó xuyên suốt và hướng dẫn toàn bộ lịch sử:
“Sự sống được mở ra cho vạn vật và tất cả được đầy tràn ánh sáng vĩnh cửu, và Đấng là Vầng Đông của các vầng đông xâm chiếm vũ trụ: Đấng được sinh ra trước Sao Mai, bất tử và cao cả, là Đức Kitô chiếu soi vạn vật hơn cả mặt trời. Vì vậy, ngày bừng sáng, lâu dài, vĩnh cửu và không thể tàn lụi đã xuất hiện cho chúng ta là những kẻ tin vào Người: đó là cuộc Vượt Qua thần bí” [Pseuđôhippôlytô Roma, In sanctum Pascha, 1, 1-2: Studia patristica mediolanensia 15,230-232 (PG 59,755)].
2466 Chân lý của Thiên Chúa được tỏ hiện cách trọn vẹn nơi Chúa Giêsu Kitô. Chính Người, Đấng tràn đầy ân sủng và chân lý [X. Ga 1,14.], là “ánh sáng thế gian” (Ga 8,12). Chính Người là chân lý [X. Ga 14,6]. Mọi kẻ tin vào Người, thì không còn ở trong bóng tối [X. Ga 12,46]. Môn đệ của Chúa Giêsu ở trong lời Người, để nhận biết chân lý có sức giải thoát [X. Ga 8,31-32] và thánh hóa [X. Ga 17,17]. Bước theo Chúa Giêsu là sống bởi Thánh Thần chân lý [X. Ga 14,17], Đấng Chúa Cha sai đến nhân danh Người [X. Ga 14,26], và là Đấng sẽ dẫn đưa đến “sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13). Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải tuyệt đối yêu mến chân lý: “Trong lời nói của anh em, hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’” (Mt 5,37).
2715 Cầu nguyện chiêm niệm là cái nhìn đầy lòng tin, chiêm ngắm Chúa Giêsu. Người dân quê làng Ars xưa đã cầu nguyện trước Nhà Tạm rồi nói với cha sở thánh của ông: “Tôi nhìn Chúa và Chúa nhìn tôi” [X. F. Trochu, Le Curé d’Ars Saint Jean-Marie Viannê (Lyon-Paris 1927) 223-224]. Sự chăm chú nhìn Chúa như vậy là sự từ bỏ “cái tôi.” Cái nhìn của Chúa thanh luyện tâm hồn chúng ta. Ánh sáng trong cái nhìn của Chúa Giêsu chiếu sáng con mắt tâm hồn chúng ta; ánh sáng ấy dạy chúng ta biết nhìn mọi sự dưới ánh sáng chân lý và lòng thương xót của Người đối với tất cả mọi người. Việc cầu nguyện chiêm niệm cũng hướng cái nhìn vào các mầu nhiệm của cuộc đời Đức Kitô. Như thế, việc cầu nguyện này dạy “sự hiểu biết nội tâm về Chúa” để yêu mến và bước theo Người nhiều hơn nữa [X. Thánh Inhaxiô Lôyôla, Exercitia spiritualia, 104: MHSI 100,224].
Số 439, 496, 559, 2616: Chúa Giêsu là Con Vua Đavít
439 Nhiều người Dothái, và cả một số người ngoại cùng chia sẻ niềm hy vọng của Ítraen, đã nhận ra nơi Chúa Giêsu những nét cơ bản của “Con vua Đavít”, Đấng Mêsia mà Thiên Chúa đã hứa ban cho Ítraen [X. Mt 2,2; 9,27, 12,23; 15,22; 20,30; 21,9.15]. Chúa Giêsu đã chấp nhận danh hiệu Mêsia, Người có quyền làm như vậy [X. Ga 4,25-26; 11,27], nhưng Người chấp nhận một cách dè dặt, bởi vì danh hiệu này bị một số người đương thời với Người hiểu theo một quan niệm quá phàm trần [X. Mt 22,41-46], đặc biệt mang tính chất chính trị [X. Ga 6,l5; Lc 24,2l].
496 Ngay trong các công thức đức tin đầu tiên [X. DS 10-64], Hội Thánh đã tuyên xưng rằng Chúa Giêsu được thụ thai trong lòng Đức Trinh Nữ Maria là chỉ do quyền năng của Chúa Thánh Thần mà thôi, và Hội Thánh cũng khẳng định khía cạnh thể lý của biến cố này: Chúa Giêsu được thụ thai “bởi Chúa Thánh Thần, không có mầm giống nam nhân” [CĐ Latêranô (năm 649), Canon 3: DS 503]. Các Giáo Phụ nhận ra việc thụ thai đồng trinh là dấu chỉ của việc Con Thiên Chúa thật sự đã đến trong bản tính nhân loại như chúng ta. Thánh Inhaxiô Antiôkhia (đầu thế kỷ II) dạy:
“Tôi đã nhận thấy anh em… xác tín rằng Chúa chúng ta, thật sự xuất thân từ dòng dõi vua Đavít theo xác phàm [X. Rm 1,3], là Con Thiên Chúa theo ý định và quyền năng Thiên Chúa [X. Ga 1,13], Người đã thật sự được sinh ra bởi một trinh nữ;… Người đã thật sự chịu đóng đinh trong thân xác vì chúng ta, thời quan Phongxiô Philatô… Người đã thật sự chịu khổ hình cũng như đã thật sự sống lại” [Thánh Inhaxiô thành Antiôkhia, Epistula ad Smyrnaeos, 1-2: SC 10bis, 132-134 (Funk 1,274-276)].
559 Giêrusalem sẽ đón nhận Đấng Mêsia của mình như thế nào? Chúa Giêsu, Đấng luôn trốn tránh mọi ý đồ của dân chúng muốn tôn Người làm vua [X. Ga 6,15], đã chọn thời điểm và chuẩn bị kỹ lưỡng để tiến vào Giêrusalem, thành của “Đavít, tổ tiên Người” (Lc 1,32) với tư cách là Đấng Mêsia [X. Mt 21,1-11]. Người được dân chúng hoan hô như con vua Đavít, như Đấng mang lại ơn cứu độ (Hosanna có nghĩa là “xin cứu”, “xin ban ơn cứu độ!”). Nhưng “Đức Vua vinh hiển” (Tv 24,7-10) lại “ngồi trên lưng lừa con” (Dcr 9,9) tiến vào thành: Người không chinh phục Thiếu nữ Xion, hình ảnh của Hội Thánh Người, bằng mưu mẹo hay bằng bạo lực, nhưng bằng sự khiêm tốn, là bằng chứng của sự thật [X. Ga 18,37]. Vì vậy, ngày hôm đó, thần dân của Nước Người là các trẻ em [X. Mt 21,15-16; Tv 8,3] và “những người nghèo của Thiên Chúa”, họ tung hô Người giống như các Thiên thần đã loan báo Người cho các mục đồng [X. Lc 19,38; 2,14]. Lời tung hô của họ: “Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa” (Tv 118,26) được Hội Thánh dùng lại trong kinh “Thánh! Thánh! Thánh!” để mở đầu phụng vụ Thánh Thể tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Chúa.
2616 Lúc Người còn đang thi hành tác vụ, lời cầu nguyện với Chúa Giêsu đã được chính Người nhận lời, qua các dấu lạ, những dấu lạ này tiền dự vào sức mạnh của sự chết và sự sống lại của Người. Chúa Giêsu nhận lời cầu nguyện của đức tin, được diễn tả bằng lời nói (của người bệnh phong [X. Mc 1,40-41], của ông Giairô [X. Mc 5,36], của người phụ nữ Canaan [X. Mc 7,29], của người trộm lành [X. Lc 23,39-43]), hay trong thinh lặng (của những kẻ khiêng người bất toại [X. Mc 2,5], của người đàn bà bị bệnh loạn huyết đụng chạm vào áo Người [X. Mc 5,28], nước mắt và dầu thơm của người phụ nữ tội lỗi [X. Lc 7,37-38]). Lời nài xin tha thiết của những người mù: “Lạy Con Vua Đavít, xin thương xót chúng tôi” (Mt 9,27) hay “Lạy Ông Giêsu, Con Vua Đavít, xin rủ lòng thương tôi” (Mc 10,48) được sử dụng lại trong truyền thống Khẩn nguyện Chúa Giêsu (Oratio ad Iesum): “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, là Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.” Chúa Giêsu luôn đáp lại lời cầu xin Người với đức tin, bằng cách chữa lành bệnh tật hoặc thứ tha tội lỗi: “Cứ về bình an, lòng tin của anh đã cứu chữa anh.”
Thánh Augustinô đã khéo léo tóm tắt ba chiều kích của lời cầu nguyện của Chúa Giêsu: “Người cầu nguyện cho chúng ta, vì Người là vị Tư Tế của chúng ta; Người cầu nguyện trong chúng ta vì Người là Đầu của chúng ta; Người được chúng ta cầu nguyện, vì Người là Thiên Chúa của chúng ta. Vậy chúng ta phải nhận biết tiếng nói của chúng ta trong Người, lẫn tiếng nói của Người trong chúng ta” [Thánh Augustinô, Enarratio in Psalmum 85, 1: CCL 39,1176 (PL 36,1081); x. Văn kiện trình bày và quy định Các Giờ Kinh phụng vụ, 7: Các Giờ Kinh Phụng Vụ, editio typica, v. 1 (Typis Polyglottis Vaticanis 1973) 24].
Số 1216: Phép Rửa là sự soi sáng
1216 “Phép Rửa này còn được gọi là ơn soi sáng, vì những ai học biết điều này (về giáo lý) thì được soi sáng trong tâm trí” [Thánh Giustinô, Apologia, 1, 61: CA 1,168 (PG 6,421)]. Người được Rửa Tội, vì trong Phép Rửa họ được đón nhận Ngôi Lời là “ánh sáng thật chiếu soi mọi người” (Ga 1,9), nên sau khi “được soi sáng” [X. Dt 10,32], họ trở thành “con cái sự sáng” [X. 1 Tx 5,5] và chính họ là “ánh sáng” (Ep 5,8):
Bí tích Rửa Tội “là hồng ân cao đẹp nhất và kỳ diệu nhất trong các hồng ân của Thiên Chúa… Chúng ta gọi bí tích đó là hồng ân, ân sủng, Rửa Tội, xức dầu, soi sáng, y phục bất hoại, sự tắm rửa của ơn tái sinh, ấn tín và tất cả những gì quý giá nhất. Nó được gọi là hồng ân, bởi vì được ban cho những người trước đó chẳng có gì; là ân sủng, bởi vì được ban cả cho những người tội lỗi; là sự dìm xuống, bởi vì tội lỗi bị chôn vùi trong nước; là xức dầu, bởi vì bí tích này là thánh thiêng và vương giả (như những người được xức dầu); là ơn soi sáng, bởi vì nó sáng ngời và chói lọi; là y phục, bởi vì nó che phủ sự xấu xa của chúng ta; là tắm rửa, bởi vì bí tích này rửa sạch; là ấn tín, bởi vì nó là sự bảo toàn và là dấu chỉ của uy quyền” [Thánh Grêgôriô thành Nazien, Oratio 40, 3-4: SC 358,202-204 (PG 36,361-364)].
Số 782, 1243, 2105: Kitô hữu phải là ánh sáng thế gian
782 Dân Thiên Chúa có những đặc tính, phân biệt họ một cách rõ ràng với tất cả những tập thể trong lịch sử về tôn giáo, chủng tộc, chính trị hoặc văn hóa:
— Đây là dân của Thiên Chúa: Thiên Chúa không thuộc riêng một dân nào. Nhưng Ngài thủ đắc cho mình một dân từ những người trước kia không phải là một dân: “là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh” (1 Pr 2,9).
— Người ta trở nên phần tử của dân này, không nhờ sự sinh ra theo thể lý, nhưng nhờ sự sinh ra “bởi ơn trên”, “bởi nước và Thần Khí” (Ga 3,3-5), nghĩa là, nhờ đức tin vào Đức Kitô và nhờ bí tích Rửa Tội.
— “Dân này có Đấng làm Đầu là Chúa Giêsu Kitô (Đấng Được Xức Dầu, Đấng Mêsia): bởi vì cùng một Sự Xức Dầu, là Chúa Thánh Thần, chảy từ Đầu vào Thân thể, nên đây là “Dân thuộc về Đấng Được Xức Dầu.”
— “Dân này có phẩm giá và sự tự do của các con cái Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần ngự trong trái tim của họ như trong một đền thờ” [CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 9: AAS 57 (1965) 13].
— “Dân này có Luật là giới răn mới của yêu thương như chính Đức Kitô đã yêu thương chúng ta” [CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 9: AAS 57 (1965) 13; x. Ga 13,14]. Đó là Luật “mới” của Chúa Thánh Thần [X. Rm 8,2; Gl 5,25].
— Sứ vụ của dân này là làm muối đất và ánh sáng thế gian [X. Mt 5,13-16]. “Dân này là hạt giống chắc chắn nhất mang lại sự hợp nhất, niềm hy vọng và ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại” [CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 9: AAS 57 (1965) 13].
— Cuối cùng, mục đích của dân này là “Nước Thiên Chúa, đã được chính Thiên Chúa khởi sự nơi trần thế và ngày càng lan rộng, cho đến khi được chính Ngài hoàn tất trong ngày tận thế” [CĐ Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 9: AAS 57 (1965) 13].
1243 Áo trắng nói lên cách tượng trưng người chịu Phép Rửa đã mặc lấy Đức Kitô [X. Gl 3,27], đã sống lại cùng với Đức Kitô. Cây nến được thắp sáng từ nến phục sinh nói lên rằng Đức Kitô đã chiếu dọi ánh sáng cho người tân tòng. Trong Đức Kitô, những người chịu Phép Rửa là “ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,14) [X. Pl 2,15]. Người tân tòng lúc đó là con cái Thiên Chúa trong Người Con Duy Nhất. Họ có thể đọc lời kinh của những người con Thiên Chúa: kinh Lạy Cha.
2105 Bổn phận phải dành cho Thiên Chúa sự tôn thờ đích thực liên quan đến con người xét theo cá nhân cũng như xã hội. Đây là “đạo lý truyền thống công giáo về bổn phận luân lý của con người và của xã hội đối với tôn giáo thật và Hội Thánh duy nhất của Đức Kitô” [CĐ Vaticanô II, Tuyên ngôn Dignitatis humanae, 1: AAS 58 (1966) 930]. Khi không ngừng loan báo Tin Mừng cho con người, Hội Thánh cố gắng làm sao để con người “có thể làm cho tinh thần Kitô Giáo thấm nhuần vào các tâm trí, phong tục, luật lệ và cơ cấu của cộng đoàn nơi họ sống” [CĐ Vaticanô II, Sắc lệnh Apostolicam actuositatem, 13: AAS 58 (1966) 849]. Bổn phận xã hội của các Kitô hữu là tôn trọng và khơi dậy nơi mỗi người tình yêu đối với chân lý và điều thiện hảo. Bổn phận này buộc họ phải truyền bá nền phụng tự của tôn giáo duy nhất và chân thật, đang tồn tại trong Hội Thánh công giáo và tông truyền [X. CĐ Vaticanô II, Tuyên ngôn Dignitatis humanae, 1: AAS 58 (1966) 930]. Kitô hữu được mời gọi trở thành ánh sáng thế gian [X. CĐ Vaticanô II, Sắc lệnh Apostolicam actuositatem, 13: AAS 58 (1966) 850]. Nhờ đó, Hội Thánh bày tỏ vương quyền của Đức Kitô trên vạn vật, đặc biệt là trên các xã hội loài người [X. ĐGH Lêô XIII, Thông điệp Immortale Dei : Leonis XIII Acta, 5, 118-150; ĐGH Piô XI, Thông điệp Quas primas: AAS 17 (1925) 593-610].
Bài giảng Đức Thánh Cha – Chúa nhật 4 mùa Chay năm A
Đây là những bài giảng và huấn dụ của Đức Thánh Cha trong các thánh lễ và các buổi đọc kinh Truyền tin với các tín hữu vào Chúa nhật 4 mùa Chay năm A.
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (19/3/2023) – Cần ngạc nhiên và thay đổi cách nhìn
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (22/3/2020) – Hãy chiếu tỏa ánh sáng Chúa Kitô
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (26/3/2017) – Ánh sáng đích thực
Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (03/4/2011) – Ý nghĩa Chúa nhật Vui mừng
Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)
Suy niệm: Mù lòa có ý nghĩa tượng trưng: tình trạng mê muội của những người sống trong tội và cố chấp. Sống trong tội là sống trong bóng tối sự chết. Người cố chấp dù mắt vẫn sáng nhưng không trông thấy vì bị những thành kiến, đam mê che lấp sự thật.
Muốn khỏi mù, trước hết phải nhận ra tình trạng tăm tối của mình, rồi phải có can đảm từ bỏ; nghĩa là phải đến với Ðức Giêsu bằng sự ăn năn và niềm tin, cụ thể qua bí tích giải tội.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến thế gian để đem ánh sáng cho chúng con. Xin cho chúng con được ánh sáng Chúa soi dẫn, để nhận ra tăm tối mù quáng của mình. Ðồng thời chúng con biết khiêm nhường, tin tưởng, cậy trông vào tình yêu nhân từ của Chúa. Ðể chúng con được ơn giải thoát. Amen.
Ghi nhớ: “Hắn đi rửa, rồi trở lại trông thấy rõ”.
Suy niệm (Lm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân)
A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : 1 Sm 16,1b.6-7.10-13a
Ông Đa-vít được xức dầu tấn phong làm vua Ít-ra-en.
Bài trích sách Sa-mu-en quyển thứ nhất.
1b Thời đó, Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en : “Ngươi hãy lấy dầu đổ đầy sừng và lên đường. Ta sai ngươi đến gặp Gie-sê người Bê-lem, vì Ta đã thấy trong các con trai nó một người Ta muốn đặt làm vua.”
6 Khi ông Gie-sê và các con trai ông đến, ông Sa-mu-en thấy Ê-li-áp, ông nghĩ : “Đúng rồi ! Người Đức Chúa xức dầu tấn phong đang ở trước mặt Đức Chúa đây !” 7 Nhưng Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en : “Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm : người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng.”
10 Ông Gie-sê cho bảy người con trai đi qua trước mặt ông Sa-mu-en, nhưng ông Sa-mu-en nói với ông Gie-sê : “Đức Chúa không chọn những người này.” 11 Rồi ông lại hỏi ông Gie-sê : “Các con ông có mặt đầy đủ chưa ?” Ông Gie-sê trả lời : “Còn cháu út nữa, nó đang chăn chiên.” Ông Sa-mu-en liền nói với ông Gie-sê : “Xin ông cho người đi tìm nó về, chúng ta sẽ không nhập tiệc trước khi nó tới đây.” 12 Ông Gie-sê cho người đi đón cậu về. Cậu có mái tóc hung, đôi mắt đẹp và khuôn mặt xinh xắn. Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en : “Đứng dậy, xức dầu tấn phong nó đi ! Chính nó đó !” 13a Ông Sa-mu-en cầm lấy sừng dầu và xức cho cậu, ở giữa các anh của cậu. Thần khí Đức Chúa nhập vào Đa-vít từ ngày đó trở đi.
Đó là lời Chúa.
Đáp ca : Tv 22,1-3a.3b-4.5.6 (Đ. c.1)
Đ. Chúa là Mục Tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
1 Chúa là Mục Tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
2 Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành
3a và bổ sức cho tôi. Đ.
3b Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người.
4 Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u,
con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm. Đ.
5 Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc
ngay trước mặt quân thù.
Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
ly rượu con đầy tràn chan chứa. Đ.
6 Lòng nhân hậu và tình thương Chúa
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên. Đ.
Bài đọc 2: Ep 5,8-14
Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào ! Đức Ki-tô sẽ chiếu sáng ngươi !
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.
8 Thưa anh em, xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng ; 9 mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật. 10 Anh em hãy xem điều gì đẹp lòng Chúa. 11 Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng. 12 Vì những việc chúng làm lén lút, thì nói đến đã là nhục rồi. 13 Nhưng tất cả những gì bị vạch trần, đều do ánh sáng làm lộ ra ; 14 mà bất cứ điều gì lộ ra, thì trở nên ánh sáng. Bởi vậy, có lời chép rằng :
Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ ! Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào !
Đức Ki-tô sẽ chiếu sáng ngươi !
Đó là lời Chúa.
Tung hô Tin mừng : Ga 8,12
Chúa nói : “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.”
Tin Mừng : Ga 9,1-41
Anh mù đến rửa ở hồ Si-lô-ác và khi về thì nhìn thấy được.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
1 Khi ấy, ra khỏi Đền Thờ, Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. 2 Các môn đệ hỏi Người : “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta ?” 3 Đức Giê-su trả lời : “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. 4 Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng ; đêm đến, không ai có thể làm việc được. 5 Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.”
6 Nói xong, Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7 rồi bảo anh ta : “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa” (Si-lô-ác có nghĩa là : người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.
8 Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói : “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao ?” 9 Có người nói : “Chính hắn đó !” Kẻ khác lại rằng : “Không phải đâu ! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi !”
Còn anh ta thì quả quyết : “Chính tôi đây !” 10 Người ta liền hỏi anh : “Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế ?” 11 Anh ta trả lời : “Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo : ‘Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa.’ Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy.” 12 Họ lại hỏi anh : “Ông ấy ở đâu ?” Anh ta đáp : “Tôi không biết.”
13 Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu. 14 Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát. 15 Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời : “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.” 16 Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói : “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát” ; kẻ thì bảo : “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy ?” Thế là họ đâm ra chia rẽ. 17 Họ lại hỏi người mù : “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh ?” Anh đáp : “Người là một vị ngôn sứ !”
18 Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. 19 Họ hỏi : “Anh này có phải là con ông bà không ? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được ?” 20 Cha mẹ anh đáp : “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. 21 Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó ; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được.” 22 Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Thật vậy, người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô. 23 Vì thế, cha mẹ anh mới nói : “Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó.”
24 Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo : “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi.” 25 Anh ta đáp : “Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều : trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được !” 26 Họ mới nói với anh : “Ông ấy đã làm gì cho anh ? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào ?” 27 Anh trả lời : “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa ? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng ?” 28 Họ liền mắng nhiếc anh : “Có mày mới là môn đệ của ông ấy ; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê. 29 Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê ; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.” 30 Anh đáp : “Kể cũng lạ thật ! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi ! 31 Chúng ta biết : Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi ; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. 32 Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. 33 Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.” 34 Họ đối lại : “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?” Rồi họ trục xuất anh.
35 Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi : “Anh có tin vào Con Người không ?” 36 Anh đáp : “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” 37 Đức Giê-su trả lời : “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” 38 Anh nói : “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người. 39 Đức Giê-su nói : “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !”
40 Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng : “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao ?”
41 Đức Giê-su bảo họ : “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng : ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn !”
Đó là lời Chúa.
Hoặc : Bài đọc ngắn : Ga 9,1.6-9.13-17.34-38
Anh mù đến rửa ở hồ Si-lô-ác và khi về thì nhìn thấy được.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
1 Khi ấy, ra khỏi Đền Thờ, Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. 6 Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7 rồi bảo anh ta : “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa” (Si-lô-ác có nghĩa là : người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.
8 Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói : “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao ?” 9 Có người nói : “Chính hắn đó !” Kẻ khác lại rằng : “Không phải đâu ! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi !” Còn anh ta thì quả quyết : “Chính tôi đây !”
13 Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu. 14 Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát. 15 Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời : “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.” 16 Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói : “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát” ; kẻ thì bảo : “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy ?” Thế là họ đâm ra chia rẽ. 17 Họ lại hỏi người mù : “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh ?” Anh đáp : “Người là một vị ngôn sứ !”
34 Họ đối lại : “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?” Rồi họ trục xuất anh.
35 Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi : “Anh có tin vào Con Người không ?” 36 Anh đáp : “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” 37 Đức Giê-su trả lời : “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” 38 Anh nói : “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người.
Đó là lời Chúa.
B. CHIA SẺ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : 1 Sm 16,1b.6-7.10-13a
1. Theo như bài đọc chúng ta vừa nghe, thì chính ngôn sứ Sa-mu-en cũng phải thay đổi cái nhìn. Ông được Chúa sai đến Bê-lem để xức dầu tấn phong một trong các con trai của ông Gie-sê làm vua tương lai của Ít-ra-en. Ông bối rối khi phải chọn lựa. Ông Gie-sê cho gọi đứa con trai cả của mình tên Ê-li-áp ra trình diện ông Sa-mu-en, ông nghĩ thầm : “Đúng rồi ! Chắc đây là đứa Chúa chọn vì nó cao ráo, đẹp đẽ. Nó xứng đáng kế vị vua Sa-un.” Nhưng Chúa bảo ông : “Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm ; người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng.” Đức Chúa không chọn bất cứ ai trong bảy người con của ông Gie-sê mà lại chọn đứa con trai út, Đa-vít, đang chăn chiên ngoài đồng.
Câu chuyện Kinh Thánh một lần nữa cho ta thấy Thiên Chúa quan tâm đến những người bé mọn : “Những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh” (1 Cr 1,27), vì : “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,9). Câu chuyện này cũng mời gọi mỗi người chúng ta phải thay đổi cái nhìn về người khác ! Câu chuyện Kinh Thánh hôm nay cho ta biết ba điều về vương quyền ở Ít-ra-en :
1.1. Thứ nhất : Vua là người được Thiên Chúa tuyển chọn, nhưng việc chọn lựa này, như tất cả mọi ơn gọi khác, là để thi hành một sứ vụ, như dân Ít-ra-en được Chúa chọn để phục vụ nhân loại. Cũng vậy, vua Ít-ra-en là người được Chúa chọn để phục vụ dân chúng ; mà nếu đương sự không làm tốt nhiệm vụ của mình, thì sẽ bị loại như trường hợp của vua Sa-un. Điều đó nhắc các vua phải luôn trung thành với sứ vụ đã được Chúa giao phó.
1.2. Thứ hai : Nhà vua cần phải được xức dầu tấn phong, vì đây là một nghi thức đặc biệt quan trọng mà bài đọc 1 hôm nay cho ta thấy, là việc quan trọng nhất khi Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en : “Ngươi hãy lấy dầu đổ đầy sừng và lên đường. Ta sai ngươi đến gặp Gie-sê người Bê-lem, vì Ta đã thấy trong các con trai nó một người Ta muốn đặt làm vua.”
1.3. Thứ ba : Việc xức dầu tấn phong ban cho nhà vua Thần Khí của Đức Chúa : “Ông Sa-mu-en cầm lấy sừng dầu và xức cho Đa-vít, ở giữa các anh của cậu. Thần Khí Đức Chúa nhập vào Đa-vít từ ngày đó trở đi.”
2. Chúng ta trở lại với việc lựa chọn nhiệm mầu của Thiên Chúa. Vài câu chuyện trong Kinh Thánh cho ta thấy Chúa thường chọn lựa những kẻ bé mọn nhất : như trường hợp Đa-vít chẳng hạn. Đa-vít là đứa con trai út của Gie-sê ở Bê-lem, và không ai nghĩ rằng Đa-vít sẽ là vua Ít-ra-en trong tương lai, hay như ông Mô-sê nói năng rất khó và tìm cách thoái thác sứ mạng được giao : “Lạy Chúa, xin xá tội cho con, từ hồi nào đến giờ, ngay cả từ lúc Chúa ban lời cho tôi tớ Ngài, con không phải là kẻ có tài ăn nói, vì con cứng miệng cứng lưỡi” (Xh 4,10). Ngôn sứ Sa-mu-en được Chúa gọi khi còn rất trẻ và chưa hề có kinh nghiệm gì, lúc còn đang phục vụ trong đền thờ Si-lô dưới quyền thầy tư tế Hê-li. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a cũng vậy : “Ôi, lạy Đức Chúa là Chúa Thượng, con đây còn quá trẻ, con không biết ăn nói !” (Gr 1,6). Ông Ti-mô-thê, cộng tác viên của thánh Phao-lô, là một người có sức khoẻ yếu kém, vì thánh Phao-lô nói về sức khoẻ không tốt của ông Ti-mô-thê. Riêng đối với dân Ít-ra-en, là dân tộc được Chúa chọn để phục vụ ơn cứu độ toàn thể nhân loại, là một dân tộc không đông đảo, và cũng không có một nhân đức gì đặc biệt cả !
Ta không thể giải thích việc chọn lựa của Thiên Chúa theo cái nhìn của con người, và một lần nữa chúng ta có dịp nhớ lại lời ngôn sứ I-sai-a : “Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta. Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi chừng ấy” (Is 55,8-9). Bài đọc 1 hôm nay cũng nói cùng một cách : “Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm ; người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng.”
Hãy luôn trông cậy vào ơn Chúa trợ giúp !
Đáp ca : Tv 22
1. Thánh vịnh 22 đề cập đến Vị Mục Tử nhân hậu. Ta có thể nói thánh vịnh 22 là một thánh vịnh được biết đến nhiều nhất trong 150 thánh vịnh. Tại sao ? Thưa, vì vẻ rất đơn sơ và nét đẹp vô song của thánh vịnh này. Qua bao thế kỷ, thánh vịnh 22 đã làm rung động biết bao con tim. Đây là bài thơ mà một đứa trẻ học thuộc lòng, một bài thơ đã vực dậy bao nhiêu người trưởng thành, ngụp lặn trong những biến động của cuộc đời, đồng thời cũng là bài thơ mang phúc bình an trên môi miệng của những ai đang hấp hối. Không một thánh vịnh nào có thể quảng diễn cách mạnh mẽ hơn lời nguyện tín thác của con người, “từ vực sâu” dâng lên Thiên Chúa với mục đích duy nhất, là xin Người làm cho tuổi đời từ lòng mẹ cho đến lòng đất, có thêm ý nghĩa.
2. Đối với người Ki-tô hữu, thánh vịnh 22 là một bài ca tuyệt vời vì Đức Chúa, Mục Tử và Chủ Nhà, được biểu hiện cách sống động trong Đức Ki-tô, Đấng đến để mang ơn cứu độ, đã được Cựu Ước loan báo như một Mục Tử nhân lành. Đức Giê-su, theo hình ảnh của Đức Chúa, tự giới thiệu mình như Vị Mục Tử nhân lành, được sai đến với chiên lạc nhà Ít-ra-en và những chiên thuộc đàn khác. Trong thư thứ nhất của thánh Phê-rô, chúng ta thấy : “Quả thật, trước kia anh em chẳng khác nào những con chiên lạc, nhưng nay đã quay về với Vị Mục Tử, Đấng chăm sóc linh hồn anh em” (1 Pr 2,25). Cũng thế, tác giả sách Khải huyền loan báo hình bóng của Con Chiên trong ngày sau hết : “Con Chiên đang ngự ở giữa ngai sẽ là Mục Tử chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh, và Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ” (Kh 7,17).
3. Tình yêu mục tử của Đức Giê-su dẫn chúng ta đến bàn tiệc Thánh Thể để dùng bữa tiệc, tưởng nhớ đến sự hy sinh của chính Chúa cho việc cứu rỗi anh em mình : “vì tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,15). Chính trong Đức Ki-tô, Đấng Thiên Chúa “đã xức dầu hoan lạc” (Hr 1,9), Chúa Cha đã xức dầu cho chúng ta, và cũng chính Thiên Chúa “đã đóng ấn tín trên chúng ta và đổ Thần Khí vào lòng chúng ta làm bảo chứng” (2 Cr 1,21-22). Bởi đó, Giáo Hội thời tiên khởi gọi thánh vịnh 22 là thánh vịnh của khai tâm Ki-tô giáo, được hát trong Phụng vụ Đêm Vọng Phục Sinh, khi các tín hữu mới được thanh tẩy bước lên khỏi giếng rửa tội, được xức dầu, được mang áo trắng mới và lần đầu tiên được dẫn tới bàn tiệc Thánh Thể. Chính Đức Ki-tô cũng hứa cho thời quang lâm “anh em sẽ ngồi đồng bàn ăn uống với Thầy trong vương quốc của Thầy” (Lc 22,30 ; x. Kh 2,7). Trong niềm tín thác đó, thánh vịnh 22 thường được dùng vào lễ an táng, để đồng hành với thân xác người quá cố mà Vị Mục Tử nhân lành đã gọi về với Người trong khi vượt qua “thung lũng âm u” của cõi chết, để “được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên”.
Bài đọc 2 : Ep 5,8-14 : Ngày xưa và bây giờ
1. Bài đọc 2 hôm nay chuẩn bị cho bài Tin Mừng khi đề cập đến việc từ bóng tối bước vào ánh sáng. Thánh Phao-lô mở đầu lời khuyên nhủ các tín hữu Ê-phê-xô như sau : “Tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em” (Ep 4,1). Ngài nói với những người tân tòng : “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4,22-24). Kể từ chương 2, thánh Phao-lô đối chọi con người tội lỗi xưa, vắng bóng Thiên Chúa (Ep 2,2.3.11), thì nay đã trở nên Ki-tô hữu : “Trước kia, anh em là những người ở xa, nhưng nay, trong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ máu Đức Ki-tô đổ ra, anh em đã trở nên những người ở gần” (Ep 2,13).
2. Từ bóng tối bước vào ánh sáng
Bài đọc 2 chúng ta vừa nghe nhấn mạnh những từ đối chọi nhau : bóng tối / ánh sáng : “Thưa anh em, xưa kia anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng, là Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền. Xưa anh em chưa phải là một dân, nay anh em đã là Dân của Thiên Chúa ; xưa anh em chưa được hưởng lòng thương xót, nay anh em đã được xót thương” (1 Pr 2,9-10). “Anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng. Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối.”
3. Con người mới
Con người mới này đã được sáng tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện (Ep 4,23), trong ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật : “Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối. Anh em hãy xem những điều gì đẹp lòng Chúa thì làm.”
Bài Tin Mừng : Ga 9,1-41
Trình thuật về việc Đức Giê-su chữa lành cho người mù từ lúc mới sinh và ban cho anh ơn đức tin nhằm làm nổi bật ba điểm sau đây :
1. Cuộc chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối : “Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng ; đêm đến, không ai có thể làm việc được. Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.” Nói xong Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta : “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa (Si-lô-ác có nghĩa là : người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được … Đức Giê-su nói : “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !”
2. Mục tiêu minh giáo : Trình thuật phản ánh cuộc tranh luận, cuộc tranh chấp giữa Giáo Hội và hội đường, giữa các môn đệ của ông Mô-sê và các môn đệ của Đức Giê-su, vào thời Giáo Hội sơ khai : “Họ liền mắng nhiếc anh : ‘Có mày mới là môn đệ của ông ấy ; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê ; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.’ Anh đáp : ‘Kể cũng lạ thật ! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy là người đã mở mắt tôi ! Chúng ta biết : Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi ; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.”
3. Bí tích Thánh Tẩy : Trong giai đoạn cuối cùng, sau khi các người dự tòng đã qua cuộc khảo sát và được coi như xứng đáng lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có đọc bài Cựu Ước về nước thánh tẩy và bài Tin Mừng Ga 9, sau đó, các người dự tòng đọc kinh Tin Kính (9,38-39). Cử chỉ mở mắt cũng là một phần trong nghi thức Thánh Tẩy (9,6). Trình thuật có thể ám chỉ bí tích Thánh Tẩy cách chung ; người dự tòng như người mù từ thuở mới sinh (9,1.2.13.19.20.25) ; tình trạng đui mù tuyệt đối, tượng trưng cho tội lỗi, bị phá tan trong nước hồ Si-lô-ác (Si-lô-ác có nghĩa là người được sai phái, chỉ Đức Giê-su) ; nước đó phát xuất từ Đức Giê-su ; tội lỗi được rửa sạch trong nước thánh tẩy nhờ quyền năng của Đức Giê-su.
Cầu nguyện : Thánh thi Kinh Sách thứ Năm tuần 2
Ôi lạy Chúa, mở cho con đôi mắt,
Thấy tình yêu kỳ diệu Chúa khắp nơi.
Con mù loà, bên vệ đường hành khất,
Xin chữa con để nhìn thấy mặt Ngài.
Cúi lạy Ngài, cho tai con nghe rõ,
Tiếng tha nhân cầu khẩn lượng hải hà,
Họ khổ đau, họ kêu gào than thở,
Đừng để con cứ giả điếc làm ngơ.
Cúi lạy Ngài, xin mở rộng tay con,
Luôn nắm lại giữ khư khư tất cả,
Trước cửa nhà có người nghèo đói lả,
Xin dạy con biết chia sẻ vui lòng.
Cúi lạy Ngài, cho chân con vững chãi,
Để tiến lên dẫu đường sá hiểm nguy.
Nguyện theo Ngài, thập giá đâu quản ngại,
Chúa cầm tay mà dẫn bước con đi.
Cúi lạy Ngài, giữ lòng con tin tưởng,
Mặc ai bảo : Chúa đã chết đâu còn.
Khi chiều về gánh thời gian trĩu nặng,
Xin dừng chân ở lại với con luôn !
Tự vấn
Trong đời sống đức tin thường ngày, có bao giờ anh chị em đã đọc đoạn Tin Mừng Mt 25,31-46 về ngày Phán xét chung : Chúa chỉ căn cứ vào một tiêu chuẩn để thưởng công hoặc luận tội chúng ta : đó là khi còn sống ở trần gian, chúng ta có yêu thương và giúp đỡ người khác không ?
C. BÀI ĐỌC THÊM
Hành trình của người mù từ lúc mới sinh, con đường dẫn tới Phép Rửa của chúng ta
(H. Denis, trong “100 mots pour dire la foi”, Desclée de Brouwer, tr. 123-124).
Dĩ nhiên người ta nói nhiều về Phép Rửa trong khi hướng đến Phục Sinh. Đó là chuyện bình thường. Chính vì thế mà chúng ta gợi chuyện anh mù từ thuở mới sinh, nhờ vào câu chuyện rất sống động ấy, mà thánh Gio-an đã viết cho chúng ta.
Tại sao lại là người mù từ thuở mới sinh ? Vì đó là bước đi của một tân tòng, là đường nhập môn của Phép Rửa.
Trước hết, Phép Rửa là một sự toả sáng. Điều đó không có nghĩa là mọi người chịu phép rửa đều chìm trong trạng thái ảo giác (illuminisme), cũng không phải là một hành động ma thuật, bởi vì người mù phải đi tới giếng Si-lô-ác. Nhưng điều đó có nghĩa là có một bước đường mầu nhiệm, từ tối tăm đến ánh sáng, từ một nhân loại còn đóng kín trong vô nghĩa và trong lầm lạc, tới một nhân loại mở ra đón ánh sáng Đức Giê-su, một nhân loại được đánh thức trước một sự sống viên mãn.
Nhưng chúng ta biết anh mù được chữa lành phải đối đầu với biết bao nhiêu là cản trở, cũng vì anh được lành. Người tín hữu mới cũng phải trải qua thử thách, nhất là khi so sánh đức tin mình với sự không tin hay dửng dưng của gia đình (đức tin không di truyền), hơn nữa còn phải đụng chạm với những thế lực khác biệt về chính kiến hay về tôn giáo, coi người chịu Phép Rửa là kẻ phải loại trừ hay đáng nghi ngờ (Phép Rửa không lẫn lộn với sự thừa nhận của xã hội, quốc gia, chính trị hay tôn giáo).
Sau hết, đến ngày người mù được lành sẽ thừa nhận Đấng cứu chuộc mình chứ không phải chỉ được chữa lành mà thôi. Mọi Ki-tô hữu, mọi người chịu Phép Rửa, một ngày nào đó cũng được mời gọi, rất sớm hay muộn màng hơn, sống một cuộc gặp gỡ có tính quyết định, bởi vì Đức Giê-su đã không tìm thấy họ đó sao ?
Ngày ấy các bạn sẽ hỏi : “Ai là ‘Con Người’” ? Và Người sẽ trả lời bạn : “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” Lúc ấy sấp mình xuống, bạn sẽ nói : “Lạy Chúa, con tin.” Đó là ngày phục sinh của bạn.
Tỉnh giấc đi,
hỡi người còn đang ngủ !
Từ chốn tử vong,
trỗi dậy đi nào ! (x. Ep 5,14).
Suy niệm (Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)
Sợi chỉ đỏ:
– Bài đọc Cựu Ước: Thiên Chúa soi sáng cho Ông Samuel chọn xức dầu phong vương cho Đavít.
– Bài Tin Mừng: Đức Giêsu chữa một người mù bẩm sinh.
– Bài đọc Tân Ước: “Xưa anh em đã từng là bóng tối, nhưng bây giờ, nhờ kết hợp với Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng”.
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Mỗi sáng thức dậy, chúng ta mở mắt ra, chúng ta nhìn cuộc đời, nhìn những việc sẽ phải làm trong ngày, nhìn những người chung quanh… Nhưng có khi nào chúng ta nhìn tất cả những điều ấy bằng ánh sáng của Chúa không ? Nếu nhìn bằng ánh sáng của Chúa, chúng ta sẽ thấy mọi sự một cách rất tuyệt vời như anh mù được Đức Giêsu chữa sáng mắt trong bài Tin Mừng hôm nay.
Ước gì sau Thánh lễ này, mắt chúng ta cũng được mở ra để thấy mọi sự theo một cái nhìn mới.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
– Nếu trong đời sống chúng ta có những điều gì còn mờ ám, hãy nhận diện chúng và nhìn chúng bằng cặp mắt của Chúa.
– Nếu ánh sáng lương tâm của chúng ta đã quá lu mờ, thì hãy xin Chúa chữa lành.
– Nếu chúng ta cố tình che đậy ánh sáng chân lý, thì hãy sám hối và xin Chúa thứ tha.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc Cựu Ước: 1 Sm 16,1b.6-7.10-13
– Saul là vua đầu tiên của Israel. Nhưng vì Saul nhìn và giải quyết các vụ việc theo quan điểm chính trị và ý riêng hơn là ý Chúa nên Chúa bỏ ông. Chúa bảo Samuel đến nhà ông Giêsê để xức dầu phong một người khác làm vua.
– Giêsê có tất cả 8 con trai. Thoạt đầu Samuel đã muốn xức dầu cho Êliab một người cao lớn khỏe mạnh. Nhưng Chúa bảo “Không phải người phàm nhìn sao, Thiên Chúa cũng nhìn thế, bởi người phàm chỉ trông thấy điều lộ trước mắt, còn Yavê trông thấy điều ẩn đáy lòng” (c 7). Cuối cùng, theo sự soi sáng của Chúa, Samuel đã chọn xức dầu cho Đavít, đứa nhỏ nhất, đứa mà Giêsê coi thường nên ban đầu không đưa ra.
– Câu chuyện cho thấy ý nghĩa chính: cái nhìn của Thiên Chúa không giống cái nhìn của loài người, vì loài người quen nhìn vẻ bề ngoài, còn Thiên Chúa nhìn tận đáy lòng.
2. Đáp ca: Tv 22
Thánh vịnh này minh họa ý tưởng “Chúa là Ánh sáng” bằng hình ảnh “Chúa là mục tử”: Ngài dẫn dắt chúng ta như mục tử dẫn dắt đoàn chiên. Cho dù có khi Ngài dẫn ta qua những chỗ u tối, khô cằn, gập ghềnh… nhưng nơi đến cuối cùng là suối nước, bóng mát và đồng cỏ.
3. Bài đọc Tân Ước: Ga 9,1-41
Câu chuyện Đức Giêsu chữa một anh mù bẩm sinh. Một số chi tiết đáng lưu ý:
– Đức Giêsu đã làm tới 2 phép lạ: chữa cặp mắt thể xác cho anh này có cái nhìn loài người, và chữa cặp mắt đức tin cho anh này có cái nhìn Thiên Chúa. Cái nhìn thứ hai quan trọng hơn, chính do cái nhìn này mà anh đã quỳ xuống trước mặt Đức Giêsu (cử chỉ tôn thờ: “Người chỉ được tôn thờ một mình Thiên Chúa mà thôi”) và tuyên xưng “Lạy Chúa, con tin”; và Gioan viết bài từng thuật này cũng vì muốn trình bày cái nhìn đức tin ấy.
* Bài học: nhìn bằng cặp mắt thể xác là một điều quý, nhưng biết nhìn bằng cặp mắt đức tin mới quan trọng hơn.
– Cái nhìn đức tin của anh thanh niên này sáng từ từ: a/ Bước thứ nhất anh chỉ thấy Đức Giêsu là “một người” tên là Giêsu (c 11); bước thứ hai, anh thấy Ngài là “một vị ngôn sứ” (c 17b); bước cuối cùng, anh nhìn nhận và tuyên xưng “Lạy Chúa, con tin” (c 37).
4. Bài Thánh Thư: Ep 5,8-14
Thánh Phaolô giải thích thế nào là nhìn mọi sự theo ánh sáng đức tin:
– “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ trong Chúa, anh em là ánh sáng” (c 8)
– “Mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật” (c 9)
– “Anh em hãy nhìn xem điều gì đẹp lòng Chúa” (c 10).
Suy niệm (Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ)
THẦY LÀ ÁNH SÁNG TRẦN GIAN
Bài Tin Mừng hôm nay vẫn nằm trong bối cảnh Lễ Lều
được người Do-thái cử hành ở Giêrusalem (x. Ga 7,2).
Đại lễ này nhắc nhớ thời gian họ sống trong sa mạc (Lv 23,42-43).
Mỗi ngày các tư tế đi rước nước ở hồ Si-lô-ác về rưới lên bàn thờ.
Buổi tối, Đền thờ bừng sáng bởi ánh đèn nơi tiền đình dành cho phụ nữ.
Chính trong khung cảnh vui tươi và rực rỡ này,
Đức Giêsu đã tuyên bố: Tôi là ánh sáng cho trần gian (Ga 8,12).
Khi mở mắt cho anh mù từ lúc lọt lòng,
Đức Giêsu cho ta thấy rõ Ngài quả là Ánh sáng thật (Ga 9,5).
Có một người đã đón nhận ánh sáng ấy, đó là anh mù bẩm sinh.
Trước tiên anh được sáng mắt, và từ từ sau đó, lòng anh cũng sáng.
Lần đầu tiên anh được nhìn thấy mọi sự, thấy mặt mẹ cha.
Lần đầu tiên anh bất ngờ được đưa ra khỏi bóng đêm của sự mù tối,
Anh được khỏi, dù không xin gì, chỉ cần vâng lời đi rửa mắt…
Có ai cảm được niềm hạnh phúc của anh bây giờ không?
Khi sáng mắt rồi, anh lại phải bước vào một hành trình khó khăn.
Người đã chữa mắt cho anh vào ngày sa-bát,
bị các chức sắc tôn giáo coi là đã phạm luật, coi là người tội lỗi.
Còn anh, một người kém cỏi vì tật nguyền, anh nghĩ sao về người đó?
Anh cứ phải trả lời nhiều lần cùng một câu hỏi,
“Làm sao mắt anh mở ra được?” (Ga 9,10.15.26),
Anh cứ phải kể đi kể lại câu chuyện kỳ diệu đã xảy ra cho mình.
Càng kể, anh càng thấy rõ hơn người đã chữa cho mình là ai.
Đó không phải là ông Giêsu nào đó mà anh không rõ ở đâu (Ga 9,11-12).
Khi có những người Pharisêu quả quyết:
“Ông ấy không phải là người của Thiên Chúa” (Ga 9,16),
thì anh dám khẳng định ngược lại: Người là một vị ngôn sứ (Ga 9,17).
Anh cứ dựa vào chuyện “trước đây anh bị mù mà nay thấy được”
để suy ra ông Giêsu chắc chắn là “người của Thiên Chúa” (Ga 9,33).
Khi anh bị tống ra ngoài, thì Đức Giêsu gặp lại anh (Ga 9,35).
Đây là lần đầu tiên anh nhìn thấy khuôn mặt người đã cứu mình.
Với thái độ tôn kính, anh sấp mình bái lạy.
Những nhà lãnh đạo Do-thái giáo khốn khổ với chuyện anh mù sáng mắt.
Vì không muốn tin chuyện ấy, nên họ cứ điều tra xem có thật không.
Ba lần điều tra, họ đều nghe kể về cùng một câu chuyện (Ga 9,13-34).
Thay vì mở lòng để nhìn thấy bàn tay Thiên Chúa đang hoạt động,
Họ khép lại trong việc kết án Đức Giêsu phạm ngày sa-bát.
Thay vì ra khỏi lối suy nghĩ cứng nhắc về việc giữ Luật Môsê,
họ cương quyết coi Đức Giêsu là người tội lỗi (Ga 9,24).
Họ đã đe dọa, nạt nộ, dùng vũ lực đối với anh được chữa lành.
Nhưng họ vẫn không trả lời được câu hỏi: “Làm sao một người tội lỗi
có thể mở mắt cho người mù bẩm sinh?” (Ga 9,16).
Mù con mắt của thân xác là điều chẳng ai mong muốn,
nhưng mù con mắt tinh thần lại là chuyện khác.
Có người mù mà không biết mình mù.
Khi bám chặt vào một thành kiến, khi bị chi phối bởi một đam mê,
người ta dễ hành động một cách mù quáng.
Tệ hơn cả là chuyện biết mình mù, nhưng lại không muốn sáng mắt,
Vì nếu mở mắt ra để nhận ra sự thật, thì mình phải thay đổi tận căn.
Nếu người Do-thái tin nhận Đức Giêsu là người của Thiên Chúa,
thì họ phải bỏ mọi quyền lợi và những xác tín sai lệch của mình.
Chúng ta cần xin Chúa mở con mắt tâm hồn,
để thấy được cái tốt, cái đẹp, cái thật, nơi mọi người, cả nơi kẻ thù.
Chúng ta cần được Chúa đưa ra khỏi sự bướng bỉnh và cố chấp,
để khiêm tốn lắng nghe và cúi mình trước sự thật đang vén mở.
Mùa Chay là thời gian đón nhận Đức Giêsu là Ánh sáng trần gian.
Để dễ đến với Ánh sáng, ta cần phải từ bỏ bóng tối (Ga 3,19-21).
CẦU NGUYỆN
Như thánh Phaolô trên đường về Đamát,
xin cho con trở nên mù lòa
vì ánh sáng chói chang của Chúa,
để nhờ biết mình mù lòa mà con được sáng mắt.
Xin cho con đừng sợ ánh sáng của Chúa,
Ánh sáng phá tan bóng tối trong con
và đòi buộc con phải hoán cải.
Xin cho con đừng cố chấp ở lại trong bóng tối
chỉ vì chút tự ái cỏn con.
Xin cho con khiêm tốn
để đón nhận những tia sáng nhỏ
mà Chúa vẫn gửi đến cho con mỗi ngày.
Cuối cùng, xin cho con hết lòng tìm kiếm Chân lý
để Chân lý cho con được tự do.
Suy niệm (Lm. Nguyễn Vinh Sơn, SCJ.)
Câu chuyện
Hiện nay trên thế giới có khoảng 13 triệu người mù hẳn. Họ bị mù hoặc là do bẩm sinh, hoặc do một tai nạn, hoặc do bệnh tật gây nên…
Một bé trai bị mù từ mới sinh. Nhờ một cuộc giải phẫu, em bắt đầu thấy được. Một hôm mẹ em đem em ra khỏi nhà, lần đầu tiên em thấy bầu trời mặt đất, em kêu lên với mẹ em: “Mẹ ơi, sao trước đây mẹ không kể cho con là trời đất đẹp đến thế này”.
Người mẹ òa lên khóc, đáp: “Con ạ, mẹ đã cố gắng kể cho con nghe, nhưng con không thể hiểu mẹ” (Arthur Tonne).
Không thể hiểu được vì em bị mù nên không thấy, cho nên không có cảm nghiệm được màu sắc và sự vật…. dù được nghe giải thích… Thật thế, thân phận người mù thật khốn khổ.
Suy niệm
Số phận anh mù trong Tin Mừng thánh Gioan như bao nhiêu người mù đều mang số phận đen: không những mắt anh không sáng để nhìn, và đến cho cả cuộc sống; một cuộc đời ăn xin, thân phận bần cùng nhất trong xã hội.
Hành trình một cuộc đời đầy đen tối của anh mù đã gặp được Đức Kitô, Đấng mang ánh sáng đến thế gian như Ngài đã tuyên bố: “Thầy là ánh sáng thế gian” (Ga 9,5). Ánh sáng cho những tâm hồn bất hạnh đen tối về thể lý, ánh sáng cho những tâm hồn đang đi trong đêm tối của đức tin. Anh mù được ánh sáng cứu độ chạm đến đôi mắt và anh đã được thấy. Ánh sáng cứu độ làm bừng sáng đức tin của anh.
Chính lúc được chữa lành đôi mắt, anh được chữa sáng về tâm linh, như Naaman – Tể tướng nước Syria được lành khỏi bệnh hủi, đã đặt hết niềm tin vào Thiên Chúa của Israel (x. 2V 5,15a), anh mù cũng đã thấy ánh sáng cứu độ cho cuộc đời anh và anh đã tuyên xưng niềm tin mình vào Đấng đã chữa mình. Vì thế, anh có dịp biểu lộ niềm tin, Chúa Giêsu đã hỏi: “Anh có tin vào Con Thiên Chúa không ?”. Anh ta trả lời: “Thưa Ngài, xin bảo cho tôi hay vị ấy là ai, để tôi tin vào Người”. Đức Giêsu nói: “Anh đang thấy vị ấy trước mắt; vị ấy đang nói chuyện với anh”. Anh ta liền nói: “Lạy Ngài, tôi tin” nói rồi anh phục xuống lạy Người” (Ga 9,35-38).
Anh được sáng mắt, được thấy và tin vào Đức Kitô được sinh ra trong ánh sáng cứu độ. Nhưng khi thấy mắt anh được lành, những con người đang sáng mắt lại lao vào sự mù tối của đức tin, lòng họ chai đá trước sự sáng mà Chúa Giêsu làm cho anh mù được thấy. Lòng họ đã chai lại thêm cứng trước Đấng Cứu Thế vì họ đưa vào lòng đạo đức giữa ngày Sabát, trong lúc Đức Kitô chữa lành anh mù trong ngày Sabát. Người ngoại, người tội lỗi, người đau yếu, đui mù tìm thấy ánh sáng đức tin vào “Con Người”, trong lúc đó, những kẻ “thấy” là kinh sư và biệt phái, kẻ tự cho mình đạo đức tuân giữ luật là những người Do Thái, luật sĩ, kinh sư lại trở nên mù tối, bị lóa mắt bởi những sự thật giả, “Vì thế họ ở trong tội lỗi của họ”.
Như anh mù được Chúa chữa lành, chúng ta cũng có nhu cầu được chữa lành mọi khiếm khuyết thể lý và tâm linh: những lo âu trần thế, những vất vả, lao đao. Chúng ta cũng có nhu cầu có con mắt đức tin để phân biệt tốt xấu và sống trong ánh sáng như anh mù khi được chữa lành kiên quyết đi trong niềm tin.
Ý lực sống
“Nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi chính là Chúa”
(Tv 26,1).


















