CHÚT SUY TƯ NGÀY LỄ TRUYỀN TIN        

Phaolô Trang Lập Quang
XĐ Tùng Lâm, GP Đà Lạt

Mới mười giờ sáng mà khí trời Đà Lạt bắt đầu oi bức vì đây là giữa mùa Hè. Thái gồng người bước từng bước một lên ngọn đồi với gánh phân chuồng trĩu nặng trên vai. Cô gia chủ mà tuổi đời chưa quá hai mươi đang bỏ phân trên một mảnh vườn khoảng ba sào. Khi thấy Thái vừa đặt gánh phân xuống với mồ hôi nhễ nhại, cô vội bước đến rồi nhỏ nhẹ nói:

– Anh uống ly nước chanh cho đỡ mệt rồi gánh tiếp nha!

Cô có vẻ quan tâm đến người làm thuê hơn những chủ vườn khác. Phải chăng đã từng nếm trải trong cảnh nghèo hèn nên cô luôn đồng cảm với người lao khổ? Hay thấy Thái làm việc quá nhiệt tình nên cô đặc biệt quan tâm? Điều này chỉ mình cô mới biết.

Trước đây, cô lập gia đình ở tuổi đôi tám, nhưng cha mẹ chồng lại quá khắc nghiệt, còn chồng thì say xỉn cờ bạc suốt ngày. Không những thế, mỗi lần cô khuyên nhủ lại bị chồng đánh cho một trận không nương tay. Vì không chịu nỗi sự đay nghiến của hai ông bà và tính vũ phu của chồng nên cô bỏ nhà ra đi. Nhiều người chê trách cô là không tìm hiểu kỹ trước khi quyết định kết hôn. Nhưng họ đâu hiểu rằng nhiều cặp đôi khi yêu nhau họ luôn che giấu những thói hư của mình. Một khi gạo đã nấu thành cơm, những tính xấu ấy mới bắt đầu bộc lộ. Lúc ấy có ân hận cũng đã muộn màng.

Luyến bỏ nhà ra đi nhưng không về với cha mẹ ruột vì cô sợ bên chồng có thể bắt cô về bất cứ lúc nào nên đi thẳng vào Nam, vì cô là người miền Bắc, và nơi dừng chân là Đà Lạt. Trước tiên cô thuê một mảnh vườn khoảng ba sào trên đồi cao. Tuy có chút bất tiện nhưng lại vừa túi tiền vì vốn liếng cô không nhiều. Với phương châm lấy công làm lời nên cô hạn chế tối đa việc thuê mướn. Nhưng với những công việc nặng nhọc vượt quá khả năng mình, cô đành phải mượn người. Thân gái chân yếu tay mềm tuy phải vất vả ngày đêm trong việc vườn tược nhưng cô luôn vui sống với một tâm hồn an bình. Không những thế, sáng nào cô cũng đi lễ và phó thác mọi sự trong tay Chúa.

Riêng Thái là một cán bộ nhà nước rất có năng lực nên được ban lãnh đạo giới thiệu vào đảng. Ngày ấy khi vào đảng phải tuyên thệ nhưng có vài lời trái với đức tin Công giáo, nên anh cương quyết từ chối, từ đó đã dẫn đến biết bao hệ lụy. Hơn nữa, anh mồ côi từ thuở nhỏ với cuộc sống như con thú hoang, chỉ thích tung hoành tự do nên chẳng chịu được sự gò bó trong khổ và chẳng ưa chuyện vào luồn ra cúi hay nịnh nọt cấp trên, cộng thêm sự thẳng thắn, chính trực mà nay gặp phải tình huống này nên anh quyết tâm xin thôi việc.

Ngày ấy, trong thời bao cấp, tất cả sinh viên đều có học bổng được nhà nước nuôi ăn học. Nếu ai muốn thôi việc thì phải bồi hoàn tất cả kinh phí mà nhà nước đã đào tạo. Còn không, tất cả hồ sơ lý lịch cũng như hộ khẩu sẽ bị giữ lại ở cơ quan.

Với một con người từng lăn lộn ngoài đời từ thuở nhỏ nên chuyện hộ khẩu hay hồ sơ lý lịch đối với anh không là gì cả, chẳng đáng quan tâm nên anh bình thản rời bỏ cơ quan rồi phiêu bạt giang hồ. Được một thời gian, Thái bỗng lâm cơn bạo bệnh và nghĩ mình sẽ không qua khỏi nên trở về giáo xứ để tìm một nơi an nghỉ cuối cùng. Nhưng thật bất ngờ! Chính nơi đây Đức Mẹ đã cầu bầu cùng Chúa chữa lành và cho anh sức khỏe như xưa. Để trả ơn Đức Mẹ, anh không biết làm gì hơn là hoán cải đời mình để thành người làm ăn chân chính, không lang bạt kỳ hồ nữa và ở lại giáo xứ để chuyên chăm tham dự Thánh lễ.

Tuy đã có bằng cấp nhờ những năm miệt mài đèn sách nhưng bằng cấp ấy giờ đây anh thả trôi theo dòng nước. Tuy là một võ sỹ ưu tú đã có bằng huấn luyện viên, khả năng mở được võ đường, nhưng anh không có hộ khẩu, không giấy tờ tùy thân thì cái bằng huấn luyện viên ấy có khác nào một mảnh giấy lộn. Nay muốn trở thành người làm ăn lương thiện để trả ơn Đức Mẹ thì chỉ có một con đường duy nhất là làm thuê cuốc mướn vì anh không có vốn liếng, cũng không nhà không cửa, không một miếng đất cắm dùi.

Ý thức thân phận mình là sống dựa vào các nhà vườn, nếu ngày nào không ai gọi đi làm là ngày ấy không có thu nhập mà vẫn phải ăn. Vì thế anh lao động rất nhiệt tình không ngại gian khó nên nhà vườn ai cũng quý mến. Chính điều này mà anh không bao giờ hết việc, ngay cả Luyến cũng chỉ gọi riêng mình anh.

Hôm ấy, trong giờ giải lao, Luyến có vẻ hớn hở:

– Trưa nay em sẽ cho anh ăn một món đặc biệt ngon cực kỳ!

Đó là lúc sáng Luyến bẫy được một con chuột cống to bằng bắp tay. Trước đây cô rất khổ sở vì nó đào hố đào hang, cắn phá đủ mọi thứ, ngay cả áo quần nó cũng không tha. Nay bắt được nó cô quá vui mừng định đem đi giết. Nhưng khi xách lên cô thấy nó to béo nên tiếc. Suy nghĩ một lúc Luyến quyết định làm thịt. Sau khi tra mắm, muối, hành, tỏi… cô ngửi thấy mùi thơm nên ăn thử một miếng. Thật bất ngờ vì nó quá ngon nên cô mới khoe với Thái.

Trưa hôm ấy, Luyến gắp một miếng thịt chuột cho vào bát của Thái rồi vừa cười vừa nói.

– Anh ăn đi! Ngon lắm!

– Thịt con gì mà thơm vậy?

– Thịt chuột cống! Sáng nay em bẫy được nó, định đập cho chết. Thấy nó to béo nên em làm thịt. Không ngờ nó ngon cực kỳ!

Nghe đến đây, Thái giật nảy người, ớn lạnh cả sống lưng. Nhất là nhìn khuôn mặt xinh xắn trẻ trung kia đang nhai thịt chuột nghe rào rạo mà rùng mình. Trước đây trong thời gian phiêu bạt giang hồ nay đây mai đó và không ít lần sống trong khu ổ chuột. Ở đây ăn uống hơi mất vệ sinh nhưng anh cảm thấy bình thường. Còn bây giờ trước món thịt chuột cống anh thấy sờ sợ. Nhưng không muốn gia chủ buồn nên anh chẳng dám vứt ra mà cứ để miếng thịt chuột chạy quanh trong bát. Thấy cơm đã hết mà miếng thịt chuột vẫn còn nên Luyến thắc mắc.

– Sao anh không ăn thịt! Chắc chê em nấu dở phải không?

Cũng may, hôm ấy là thứ Sáu nên Thái đã có lý do.

– Thịt ngon thật! Nhưng hôm nay là thứ Sáu nên kiêng thịt chứ không phải chê.

– Anh ngoan đạo thật! Có lẽ thứ Sáu hằng tuần em cũng kiêng thịt.

Nói đến đây, bỗng Luyến cúi đầu sa sầm nét mặt rồi nói ấp úng.

– Ngày nào… cũng… rau… với mắm. Năm thuở mười thì mới mua được một miếng thịt. Không kiêng thì cũng đã kiêng rồi.

Bất chợt Luyến ngẩng đầu lên nói cười vui vẻ.

– Người ta ăn để sống chứ đâu phải sống để ăn! Cao lương mĩ vị cũng xong một bữa mà cơm rau thì cũng no lòng. Chúa cho mình hằng ngày dùng đủ là tạ ơn Chúa rồi.

Phải chăng đó là hai tiếng xin vâng đã làm Luyến luôn vui sống , bằng lòng với những gì mình đang có và phó thác mọi sự trong tay Chúa. Nhìn vẻ mặt vui tươi của Luyến như không cảm thấy buồn phiền về cuộc sống khó khăn của mình, ít nhiều cũng làm Thái xót xa về sự thiếu thốn của những người cùng khổ, ngay cả con chuột, con rắn…cũng có thể biến thành thức ăn.

Chính nhờ hai tiếng xin vâng mà Luyến cảm thấy mình hạnh phúc hơn những người giàu sang khi họ chưa bằng lòng với những gì mình đang có, đã giàu lại muốn giàu hơn nên phải lao tâm khổ tứ chẳng được bính an, để rồi tận cùng vẫn là cái chết.

Nói lời “xin vâng” có lẽ người Công giáo nào cũng liên tưởng đến lễ Truyền Tin với hai tiếng “xin vâng” của Đức Mẹ. Đối với chúng ta, xin vâng quá đơn giản chỉ là sự đồng ý hay chấp nhận yêu cầu của ai đó. Nhưng nhìn vào bối cảnh ngày ấy, lời “xin vâng” của Đức Mẹ phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Theo luật Do Thái, người phụ nữ nào chưa kết hôn đã mang thai sẽ bị ném đá cho đến chết mà còn mang tiếng xấu ngàn thu. Khi Sứ thần đến truyền tin, Đức Mẹ sẽ mang thai do quyền năng của Đấng Tối Cao. Nghe những lời này chắc chắn Đức Mẹ ít nhiều gì cũng lo sợ vì đây là ranh giới giữa sự sống và cái chết. Nhưng với một đức tin mạnh mẽ, tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa nên Mẹ đã nói lên hai tiếng “xin vâng” cho dù Mẹ chưa hiểu rõ chương trình cứu chuộc nhân loại của Thiên Chúa, còn Thánh Giuse có tố cáo Mẹ không. Và Mẹ cũng không biết rồi đây mình sẽ lâm vào cảnh cơ cực khốn cùng khi sinh nở nơi máng cỏ hang lừa hôi tanh, phải đứng dưới chân thập giá nhìn con yêu hấp hối như ngàn mũi dao xuyên thủng trái tim.

Với một đức tin mạnh mẽ như đã ăn sâu vào máu thịt cho dù không biết tương lai mình sẽ ra sao, nhưng Mẹ vẫn nói lời “xin vâng” và ca khen Thiên Chúa “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn Người đoái thương nhìn tới; từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc…”

Qua lời xin vâng, Chúa đã ngự trong cung lòng Đức Mẹ để xuống thế làm người và thực hiện chương trình cứu chuộc nhân loại. Vì thế, nhiều người cho rằng chính lời xin vâng của Đức Mẹ là bình minh ơn cứu độ. Nếu Đức Mẹ không nói lời xin vâng thì Thiên Chúa không thể thực hiện chương trình cứu độ của Ngài và cũng không có đại lễ Giáng sinh.