
Đây là Chiên Thiên Chúa,
Đấng xoá bỏ tội trần gian.
Bài đọc 1: Is 49,3.5-6
Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất.
Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.
3 Đức Chúa đã phán cùng tôi:
“Hỡi Ít-ra-en, ngươi là tôi trung của Ta.
Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang.”
5Giờ đây Đức Chúa lại lên tiếng.
Người là Đấng nhào nặn ra tôi
từ khi tôi còn trong lòng mẹ
để tôi trở thành người tôi trung,
đem nhà Gia-cóp về cho Người
và quy tụ dân Ít-ra-en chung quanh Người.
Thế nên tôi được Đức Chúa trân trọng,
và Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi.
6Người phán: “Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta
để tái lập các chi tộc Gia-cóp,
để dẫn đưa các người Ít-ra-en sống sót trở về,
thì vẫn còn quá ít.
Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân,
để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất.”
Đó là lời Chúa.
Chúa nhật 2 Thường niên năm A | Bài đọc 1: Is 49, 3.5-6
Đáp ca: Tv 39,2 và 4ab.7-8a.8b-9.10 (Đ. x. c.8a và c.9a)
Đ.Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Ngài.
2Tôi đã hết lòng trông đợi Chúa,
Người nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu.4abChúa cho miệng tôi hát bài ca mới,
bài ca tụng Thiên Chúa chúng ta.
Đ.Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Ngài.
7Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật,
nhưng đã mở tai con;
lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi,8acon liền thưa: “Này con xin đến!
Đ.Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Ngài.
8bTrong sách có lời chép về con9rằng: con thích làm theo thánh ý,
và ấp ủ luật Chúa trong lòng,
lạy Thiên Chúa của con.
Đ.Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Ngài.
10Đức công chính của Ngài,
con loan truyền giữa lòng đại hội;
lạy Chúa, Ngài từng biết:
con đâu có ngậm miệng làm thinh.
Đ.Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Ngài.
Chúa nhật 2 Thường niên năm A | Đáp ca: Tv 39
Bài đọc 2: 1 Cr 1,1-3
Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giê-su ban cho anh em ân sủng và bình an.
Khởi đầu thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.
1 Tôi là Phao-lô, bởi ý Thiên Chúa được gọi làm Tông Đồ của Đức Ki-tô Giê-su, và ông Xốt-thê-nê là người anh em của chúng tôi, 2 kính gửi Hội Thánh của Thiên Chúa ở Cô-rin-tô, những người đã được hiến thánh trong Đức Ki-tô Giê-su, được kêu gọi làm dân thánh, cùng với tất cả những ai ở bất cứ nơi nào kêu cầu danh Chúa của chúng ta, Đức Giê-su Ki-tô, là Chúa của họ và của chúng ta. 3 Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giê-su Ki-tô ban cho anh em ân sủng và bình an.
Đó là lời Chúa.
Chúa nhật 2 Thường niên năm A | Bài đọc 2: 1 Cr 1, 1-3
Tin mừng: Ga 1,29-34
29 Khi ấy, ông Gio-an thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian.
30 Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.
31 Tôi đã không biết Người, nhưng tôi đến làm phép rửa trong nước để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en.”
32 Ông Gio-an còn làm chứng: “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người.
33 Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.”
34 Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.”
Bài giảng Chúa nhật 2 mùa Thường niên năm A (năm 2020)
– Linh mục Inhaxiô Hồ Văn Xuân
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 2 Thường niên năm A (15/01/2023) – Biết rút lui đúng lúc
Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật 2 Thường niên năm A (15/01/2017) – Làm chứng cho Đức Kitô
Số 604-609: Chúa Giêsu, Chiên xoá tội trần gian
Số 604. Khi trao nộp Con của Ngài vì tội lỗi chúng ta, Thiên Chúa biểu lộ kế hoạch của Ngài là một kế hoạch của tình yêu lân mẫn, đi trước mọi công trạng của chúng ta: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4,10)[1]. “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5,8).
Số 605. Tình yêu này không loại trừ một ai. Chúa Giêsu nhắc lại điều đó để kết luận dụ ngôn về con chiên lạc: “Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18,14). Người quả quyết Người “hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28). Lời tuyên bố quan trọng này không mang ý nghĩa hạn chế: lời đó đặt song đối tập thể nhân loại với một mình Đấng Cứu Chuộc, Đấng tự hiến để cứu độ nhân loại ấy[2]. Hội Thánh, theo sau các Tông Đồ[3], dạy rằng: Đức Kitô đã chết cho tất cả mọi người không trừ một ai. “Trước kia, hiện nay cũng như sau này, không có một ai mà Người [Đức Kitô] không chịu khổ nạn cho”[4].
Cả cuộc đời của Đức Kitô là của lễ dâng hiến Chúa Cha
Số 606. Con Thiên Chúa, Đấng từ trời xuống, không phải để làm theo ý Người, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai Người”[5], “khi vào trần gian, Người nói: ‘Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài’… theo ý đó, chúng ta được thánh hóa, nhờ Chúa Giêsu Kitô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, một lần cho mãi mãi” (Dt 10,5-10). Ngay từ phút đầu tiên Người nhập thể, Chúa Con đã gắn bó với kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa trong sứ vụ cứu chuộc của mình: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Ngài” (Ga 4,34). Hy lễ của Chúa Giêsu “đền bù tội lỗi cả thế gian” (1 Ga 2,2) là sự diễn tả tình yêu hiệp thông của Người với Chúa Cha: “Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,17). Thế gian phải “biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy” (Ga 14,31).
Số 607. Sự khao khát gắn bó với kế hoạch yêu thương cứu chuộc của Chúa Cha truyền cảm hứng cho cả cuộc đời Chúa Giêsu[6], bởi vì cuộc khổ nạn cứu chuộc của Người là lý do việc Người nhập thể: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này! Nhưng chính vì giờ này mà con đã đến” (Ga 12,27). “Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?” (Ga 18,11). Và trên thập giá, trước khi mọi sự “đã hoàn tất” (Ga 19,30), Người nói: “Tôi khát!” (Ga 19,28).
“Chiên xoá tội trần gian”
Số 608. Sau khi chấp nhận làm phép rửa cho Chúa Giêsu giữa các tội nhân[7], ông Gioan Tẩy Giả đã thấy và giới thiệu Người là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian[8]. Như vậy ông cho thấy rằng Chúa Giêsu đồng thời vừa là Người Tôi trung đau khổ, im lặng chịu đem đi làm thịt[9] và mang lấy tội lỗi muôn người[10], vừa là Chiên Vượt Qua, biểu tượng cho việc Cứu Chuộc Israel trong cuộc Vượt Qua đầu tiên[11]. Cả cuộc đời của Đức Kitô diễn tả sứ vụ của Người: phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người[12].
Chúa Giêsu tự do gắn bó với tình yêu cứu chuộc của Chúa Cha
Số 609. Khi gắn bó với tình yêu của Chúa Cha đối với loài người trong trái tim nhân loại của mình, Chúa Giêsu “đã yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1), bởi vì “không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Như vậy, nhân tính của Người trong cuộc khổ nạn và cái chết, đã trở thành dụng cụ tự do và hoàn hảo của tình yêu thần linh của Người, một tình yêu muốn cứu độ mọi người[13]. Thật vậy, Người đã tự do chấp nhận cuộc khổ nạn và cái chết vì tình yêu đối với Cha Người và đối với loài người mà Người muốn cứu độ: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10,18). Do đó, Con Thiên Chúa đã tự do tột bậc khi Người tiến tới cái Chết[14].
Số 689-690: Sứ vụ phối hợp của Chúa Con và Chúa Thánh Thần
Số 689. Đấng mà Chúa Cha đã sai đến trong tâm hồn chúng ta, Thần Khí của Con Ngài[15], Đấng ấy thật sự là Thiên Chúa. Là Đấng đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Con, Ngài không thể bị tách biệt khỏi Chúa Cha và Chúa Con, trong đời sống thâm sâu của Ba Ngôi cũng như trong hồng ân tình yêu của Ba Ngôi dành cho trần gian. Nhưng đức tin của Hội Thánh, khi tôn thờ Ba Ngôi Chí Thánh ban sự sống, đồng bản thể và không thể phân chia, cũng tuyên xưng sự phân biệt giữa các Ngôi Vị. Khi Chúa Cha sai Lời của Ngài đến, Ngài luôn sai Thần Khí của Ngài nữa: một sứ vụ phối hợp trong đó Chúa Con và Chúa Thánh Thần được phân biệt, nhưng không thể tách biệt. Đức Kitô là Đấng xuất hiện vì Người là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình, nhưng chính Chúa Thánh Thần là Đấng mạc khải Đức Kitô.
Số 690. Chúa Giêsu là Đức Kitô, “Đấng được xức dầu”, bởi vì Thần Khí là sự Xức dầu của Người, và mọi sự xảy ra khởi từ cuộc Nhập Thể, đều bắt nguồn từ sự sung mãn này[16]. Sau cùng, khi Đức Kitô được tôn vinh[17], đến lượt Người, Người có thể sai Thần Khí từ nơi Chúa Cha đến với những ai tin vào Người: Người truyền thông cho họ vinh quang của mình[18], nghĩa là truyền thông Chúa Thánh Thần, Đấng tôn vinh Người[19]. Từ lúc đó, sứ vụ phối hợp này được mở rộng đến những người được Chúa Cha nhận làm nghĩa tử trong thân thể của Con Ngài: sứ vụ của Thần Khí nghĩa tử sẽ là kết hợp họ với Đức Kitô và làm cho họ sống trong Người.
“Việc Xức dầu nói lên ý nghĩa là không có khoảng cách nào giữa Chúa Con và Chúa Thánh Thần; cũng như lý trí và giác quan không nhận thấy một trung gian nào giữa da thịt và dầu xức, thì sự kết hợp giữa Chúa Con và Chúa Thánh Thần cũng không thể phân chia như vậy, đến độ ai muốn tiếp xúc với Đức Kitô bằng đức tin, cần phải tiếp xúc với dầu trước đã: quả vậy, không có chi thể nào, mà không có Chúa Thánh Thần. Vì vậy, việc tuyên xưng quyền làm Chúa của Chua Con được thực hiện trong Chúa Thánh Thần do những kẻ đón nhận Chúa Con, những người này được Chúa Thánh Thần từ muôn phương đến gặp khi họ đến với Chúa Con bằng đức tin”[20].
Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)
Suy niệm: “Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa tội trần gian”. Hình ảnh con chiên bị đem đi sát tế. Hình ảnh con rắn đồng được Môisê treo lên khi xưa. Chính là hình ảnh con Thiên Chúa chịu chết để cứu chuộc nhân loại. Chúa Giêsu xuống thế làm người. Ngài chịu chết để cho con người được sống.
Lời tung hô “Ðây Chiên Thiên Chúa” trong thánh lễ mỗi ngày nhắc nhở chúng ta: con người trở nên cao quý vì đã được chuộc bằng máu vô giá của Ðức Giêsu Kitô.
Cầu nguyện: Lạy Cha, nhờ Máu Cực Thánh của Ðức Giêsu con Cha, chúng con đã được trở nên vô giá. Xin cho chúng con biết quý trọng phẩm giá của mình, và biết trân trọng tha nhân. Vì đó là món quà quý Cha ban tặng cho chúng con. Lời tạ ơn luôn vang trên môi: Vâng, lạy Cha, chúng con xin tạ ơn Cha, cùng với Ðức Giêsu Kitô Con Cha. Amen.
Ghi nhớ: “Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xoá tội trần gian”.
Suy niệm (Lm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân)
A.CHIA SẺ LỜI CHÚA
1. Bài đọc 1 : Is 49,3.5-6
1. Trong lễ Chúa Giê-su chịu phép Rửa, chúng ta đã đọc bài ca đầu tiên trong “các bài ca của Người Tôi Tớ”. Tôi muốn đề cập đến bốn bài ca trong sách I-sai-a đệ nhị mà ta thường gọi là “các bài ca về Người Tôi Tớ” hay “Người Tôi Trung”, mỗi bài ca phác hoạ dung mạo “Người Tôi Tớ của Thiên Chúa”, nhưng nhấn mạnh đến những khía cạnh khác nhau.
Trong bài ca thứ nhất, chúng ta khám phá ra ba điểm quan trọng : Người Tôi Tớ được Thiên Chúa tuyển chọn để thực hiện một sứ mạng rõ ràng. Sứ mạng đó là làm sáng tỏ đức công chính của Đức Chúa và nâng đỡ tất cả những người bất hạnh. Cuối cùng, sứ mạng này liên quan đến toàn thể nhân loại, được diễn tả bằng một câu nói thật đẹp “các hải đảo xa xăm”. Đó là điều ta gọi là “tính cách phổ quát trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa”.
Bài ca đầu tiên đã không xác định ai là người Tôi Tớ của Thiên Chúa ; bài ca mô tả một nhân vật thật sự, hay chỉ là dung mạo lý tưởng của người Tôi Tớ thật sự của Thiên Chúa ? Bài ca thứ hai trong bài đọc 1 chúng ta vừa nghe sẽ giúp ta hiểu rõ hơn.
2. Tuy nhiên, trước khi trả lời câu hỏi nêu trên, chúng ta đừng quên rằng tất cả các bản văn Kinh Thánh trước tiên là một mặc khải về Thiên Chúa và về kế hoạch của Người ; điều đó thật rõ ràng ; vì những chữ cuối cùng của bài đọc 1 hôm nay nói lên điều đó : “Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất.” Một lần nữa, Kinh Thánh cho chúng ta biết kế hoạch của Thiên Chúa là một kế hoạch cứu độ và liên quan đến toàn thể nhân loại, “đến tận cùng cõi đất”.
Ở đây sứ mạng của Người Tôi Tớ được diễn tả bằng một kiểu nói làm ta ngạc nhiên : “Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang”, câu nói ngắn gọn này đề cập đến một điều phi thường. Vinh quang của Thiên Chúa, chính là sự hiện diện rực rỡ của Người. “Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang” muốn nói rằng một cá nhân hay một dân tộc có thể trở nên người mang vinh quang của Thiên Chúa, có thể chiếu toả ánh sáng của Thiên Chúa.
3. Câu cuối cùng của bài đọc 1 hôm nay nói rất rõ điều đó : “Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất.” Chúng ta nhớ lại các bản văn của sách I-sai-a được đọc trong lễ Hiển Linh. Bản văn hôm nay lấy lại chính chủ đề đó : Giê-ru-sa-lem là người mang ánh sáng của Thiên Chúa để hướng dẫn các quốc gia. Ở đây ngôn sứ I-sai-a sử dụng một kiểu nói tương tự : “Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi.” Tất cả mọi sức mạnh, tất cả mọi ánh sáng không phát xuất từ chúng ta, nhưng từ Thiên Chúa đang ngự trong chúng ta.
Một câu khác cũng gây ngạc nhiên trong bài đọc 1 hôm nay mà chúng ta đã nghe trong bài ca thứ nhất : “làm ánh sáng muôn dân”, trở thành khí cụ của Thiên Chúa để “đem ơn cứu độ của Thiên Chúa đến tận cùng cõi đất”, đó chính là ơn gọi của Đấng Mê-si-a, ở đây không đề cập đến một Đấng Mê-si-a – Vua, nhưng là một Đấng Mê-si-a – Tôi Tớ. Với bốn bài ca về “Người Tôi Tớ” trong sách I-sai-a, việc trông chờ Đấng Mê-si-a mang một diện mạo khác.
4. Còn một câu hỏi khó hiểu khác : Người Tôi Tớ nhiệm mầu này là một cá nhân hay một tập thể ? Trước hết, Người Tôi Tớ này được gọi là Ít-ra-en : “Hỡi Ít-ra-en, ngươi là tôi trung của Ta. Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang.” Vì thế, Người Tôi Trung là một tập thể, đó là dân Ít-ra-en được Chúa trao ban sứ mạng phục vụ thế giới. Kế hoạch của Thiên Chúa là phổ quát, nhưng để hoàn thành kế hoạch của Người, Thiên Chúa đã chọn một dân riêng, đó là dân Ít-ra-en : “Đức Chúa đã phán cùng tôi : ‘Hỡi Ít-ra-en, ngươi là tôi trung của Ta. Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang.’”
* Vậy khó khăn ở đâu ? Đọc những câu tiếp theo, chúng ta thấy : “Người là Đấng nhào nặn ra tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, để tôi trở thành người tôi trung, đem nhà Gia-cóp về cho Người và quy tụ dân Ít-ra-en chung quanh Người.” Nếu Người Tôi Trung là Ít-ra-en, làm thế nào ta có thể nói Người sẽ quy tụ dân Ít-ra-en chung quanh Người ? Cách chung người ta nghĩ rằng bản văn đề cập đến một nhóm nhỏ những người trung thành, số sót nhỏ bé, những người có lòng tin sắt son, không hề bị chao đảo trong lúc bị lưu đày hay bị bắt bớ. Chính với nhóm nhỏ này mà Thiên Chúa tin tưởng giao phó sứ mạng nâng đỡ anh em mình để quy tụ họ lại, và đưa họ trở về xứ sở, hoặc như ngôn sứ I-sai-a đã nói “đem nhà Gia-cóp về cho Người và quy tụ dân Ít-ra-en chung quanh Người”. Nhưng việc tái lập dân tộc này trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa là tiền đề cho việc cứu độ toàn thể nhân loại. “Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất.”
* Chúa cũng nhờ chúng ta giới thiệu Thiên Chúa là Tình Yêu, là Cha giàu lòng thương xót cho những anh chị em chưa nhận biết Chúa, bằng chính đời sống bác ái yêu thương của tất cả chúng ta, những Ki-tô hữu của Chúa.
2. Đáp ca : Tv 39
Thánh vịnh 39 là một thánh vịnh cảm tạ Chúa và xin Người phù giúp ; phần trích đoạn hôm nay tóm tắt tuyệt vời khám phá của Kinh Thánh về hy tế : “Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, nhưng đã mở tai con.” Từ bình minh của nhân loại, Thiên Chúa đã “mở tai con người” để bắt đầu với con người một cuộc đối thoại tình yêu : Thánh vịnh 39 phản ánh việc thực tập lâu dài của dân Ít-ra-en để bước vào cuộc đối thoại này. Trong Giao ước Xi-nai, tế phẩm là các con vật tượng trưng cho ý muốn của dân tộc Ít-ra-en muốn thuộc về Thiên Chúa ; còn trong Tân Ước, dân mới hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, bởi vì cuộc đối thoại tình yêu đã được thực hiện, tế phẩm và lễ vật thuộc lãnh vực “thiêng liêng” như thánh Phao-lô sẽ nói : “Lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi, con liền thưa : ‘Này con xin đến.’” Lúc bấy giờ, bài ca mới vang lên từ tâm hồn của con người : “Đức công chính của Ngài, con loan truyền giữa lòng đại hội.”
3. Bài đọc 2 : 1 Cr 1,1-3
1. Thánh Phao-lô là một con người đầy nhiệt huyết, biết xả thân cho một lý tưởng mà không hề tính toán. Lý tưởng của ngài, căn bản là Đạo. Đối với ngài, Thiên Chúa là tất cả, và ngài thờ Thiên Chúa với lòng trung thành tuyệt đối. Chính vì thế mà lúc đầu, ngài bắt bớ các Ki-tô hữu vì cho họ là những kẻ lạc đạo, sau đó ngài lại rao giảng Đức Ki-tô, vì được mặc khải Người là Vị Cứu Tinh duy nhất. Lòng nhiệt thành vô điều kiện này biểu lộ qua một đời sống quên mình để phục vụ Đấng ngài yêu mến. Ngài không quản nhọc nhằn, đau khổ, thiếu thốn, hiểm nguy, miễn sao hoàn thành được nhiệm vụ. Không gì có thể tách ngài ra khỏi tình yêu Thiên Chúa và Đức Ki-tô. Nói đúng hơn, mọi gian khổ đều quý giá, vì làm cho ngài được thông phần cuộc Thương Khó và Thập Giá của Thầy mình, đặc biệt trong ba cuộc hành trình truyền giáo của ngài. Dù gặp biết bao thử thách gian truân, ngài đã thiết lập nhiều giáo đoàn mà Cô-rin-tô là một trong những giáo đoàn được ngài thành lập trong chuyến đi truyền giáo lần thứ hai. Thánh nhân đã ở lại giảng dạy tại đó hơn mười tám tháng, từ cuối năm 50 đến giữa năm 52. Theo cách hoạt động thông thường của ngài ở các trung tâm lớn, thánh Phao-lô muốn gieo hạt giống đức tin tại cửa khẩu sầm uất nổi danh này, mong hạt giống ấy sinh hoa kết trái trong cả xứ A-khai-a. Quả thật, ngài đã gầy dựng một cộng đoàn vững mạnh tại đó.
2. Nhưng thành phố lớn này là một trung tâm văn hoá Hy-lạp, là giao điểm của nhiều trào lưu tư tưởng và tôn giáo khác nhau, với một nhịp sống xô bồ ai cũng biết tiếng. Nơi đây còn có những vấn đề xã hội của một thành phố lớn : thiểu số dân cư là giàu, còn đa số thì nghèo, gồm những nô lệ, người cùng đinh bị khinh chê, người thấp cổ bé họng. Điều này ảnh hưởng đến tinh thần của giáo đoàn. Các tín hữu thật sốt sắng, nhưng lại bị nhịp sống vô đạo vô luân bên ngoài đe doạ. Đức tin Ki-tô giáo còn non trẻ tiếp xúc với một thành phố như thế quả là một sự kiện đặt ra nhiều vấn đề tế nhị cho người mới theo đạo.
Những lời đầu tiên của bài đọc 2 hôm nay cho ta thấy ngay toàn bộ các bức thư thánh nhân gửi cho các cộng đoàn tín hữu đầu tiên : Ngài được Thiên Chúa kêu gọi và viết cho những người được gọi : “Tôi là Phao-lô, bởi ý Thiên Chúa được gọi làm Tông Đồ của Đức Ki-tô Giê-su, được kêu gọi làm dân thánh.” Thánh Phao-lô là Tông Đồ của Đức Ki-tô Giê-su, không phải do ngài tự phong nhưng bởi ý của Thiên Chúa, và quyền hành của ngài phát xuất từ đó, và ngài ngỏ lời với Giáo Hội của Chúa tại Cô-rin-tô. Ðồng thời thánh Phao-lô cũng nhắc đến mối liên hệ của cộng đoàn Cô-rin-tô với các cộng đoàn Ki-tô hữu khác : “Kính gửi Hội Thánh của Thiên Chúa ở Cô-rin-tô, những người đã được hiến thánh trong Đức Ki-tô Giê-su, được kêu gọi làm dân thánh, cùng với tất cả những ai ở bất cứ nơi nào kêu cầu danh Chúa của chúng ta, Đức Giê-su Ki-tô, là Chúa của họ và của chúng ta.”
* Xin Chúa ban cho chúng ta ân sủng và bình an, vì không có ơn Chúa, chúng ta không thể làm gì thành công được. Và nếu không có bình an Chúa ban, thì chúng ta không thể nào tìm được sự thanh thản trong tâm hồn giữa muôn vàn sóng gió của cuộc đời.
4. Bài Tin Mừng : Mt 1,29-34
1. Câu chuyện hôm nay xảy ra sau khi Chúa Giê-su chịu phép Rửa tại sông Gio-đan bởi ông Gio-an : Chính vào lúc đó, ông Gio-an hiểu rằng người anh em bà con của mình chính là Đấng Mê-si-a. Bộ mặt của thế gian đã thay đổi, nhân loại bước vào giai đoạn thứ hai trong lịch sử của mình : có thời kỳ trước Đấng Mê-si-a (thời kỳ chờ đợi) và bây giờ Đấng Mê-si-a đang ở trước mặt ông, Người “đến” như các ngôn sứ đã tiên báo. Lúc bấy giờ mắt của thánh Gio-an Tẩy Giả mở ra. Toàn bộ đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe nói cho ta biết ông đã chiêm ngưỡng như thế nào, ta có thể nói là ông gần như có một thị kiến ; và mầu nhiệm Đức Ki-tô đã được mặc khải cho ông. Chúa Giê-su vừa là “Chiên Thiên Chúa”, “Con Người trên đó Thần Khí ngự trị”, “Con Thiên Chúa”, chính Người là “Đấng xoá tội trần gian”.
2. “Con Chiên” khiến chúng ta nghĩ đến “Con Chiên vượt qua”. Nghi thức lễ Vượt Qua hằng năm nhắc cho dân Ít-ra-en nhớ rằng Thiên Chúa đã giải thoát họ. Đêm dân Ít-ra-en được Chúa đưa ra khỏi Ai-cập, ông Mô-sê truyền cho dân cử hành nghi thức truyền thống, nhưng nhấn mạnh “từ nay về sau, hằng năm, nghi thức này nhắc anh em nhớ rằng Thiên Chúa đã đi qua giữa anh em để giải thoát anh em, Máu Chiên là dấu chỉ giải thoát anh em”. Thánh Gio-an Tẩy Giả áp dụng danh xưng này cho Chúa Giê-su : Người là “Chiên Vượt Qua”, Người chính là sự hiện diện của Thiên Chúa, sự vượt qua của Thiên Chúa đã giải thoát dân Người. Chính Đức Ki-tô đã giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ tồi tệ nhất là tội lỗi. Người xoá bỏ tội lỗi của trần gian, Người hoà giải nhân loại với Thiên Chúa. Vì thế, Người chính là Đấng Mê-si-a muôn dân trông đợi.
Con Chiên cũng khiến chúng ta nghĩ đến Người Tôi Trung của Thiên Chúa mà sách I-sai-a đệ nhị đã nói (chương 53) : Người được so sánh với con chiên vô tội mang lấy tội lỗi của muôn người.
Cuối cùng, “Chiên Thiên Chúa” có nghĩa “Con Chiên được Thiên Chúa ban cho” khiến ta nhớ đến hy tế ông Áp-ra-ham dâng lên cho Chúa. Khi I-xa-ác, đứa con trai độc nhất của ông hỏi : “Nhưng con chiên để dâng của lễ toàn thiêu ở đâu, thưa cha ?” Ông Áp-ra-ham trả lời : “Con ơi, chính Đức Chúa sẽ ban cho.” Ở đây, thánh Gio-an Tẩy Giả cho ta thấy Con Chiên đích thực đã được Thiên Chúa chuẩn bị. Những của lễ đẫm máu đã bị huỷ bỏ như thánh vịnh 39 cho ta biết : “Lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi, con liền thưa : ‘Này con xin đến.’” Chính sự sẵn sàng, lòng tin tưởng của Người Con đã xoá bỏ tội lỗi trần gian : Chính sự sẵn sàng chứ không phải lễ vật đẫm máu mới có giá trị trước mặt Chúa.
3. Lời quả quyết thứ hai của thánh Gio-an Tẩy Giả về Chúa Giê-su là một lời chứng : “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người.” Và Chúa Giê-su chính là người đó. Đó cũng là một danh xưng thuộc về Đấng Mê-si-a, vì đặc điểm của Đấng Mê-si-a là lãnh nhận Thần Khí của Chúa để hoàn thành sứ mạng của mình.
Mê-si-a trong tiếng Híp-ri có nghĩa là “người được xức dầu”, như tân vương được xức dầu ngày đăng quang là dấu chỉ Thần Khí đồng hành với vị đó suốt hành trình sứ mạng của mình. Từ Đa-vít, người ta nói rằng Thần Khí Chúa đã đổ tràn xuống trên nhà vua vào lúc lên ngôi, và chỉ lúc đó mà thôi, vì sau đó các vua Ít-ra-en không hề theo sự hướng dẫn của Thần Khí trong việc cầm quyền trị nước. Nhưng Chúa Giê-su thì ngược lại, thánh Gio-an Tẩy Giả cho ta biết Thần Khí Chúa vẫn ở trong Người, nghĩa là tất cả mọi hoạt động của Người cũng là những hoạt động của Thần Khí.
Thần Khí ở đây là Thần Khí tình yêu. Nhân loại đang sống trong nghi ngờ và thù hận. Khi đến trần gian, Chúa Giê-su mở đầu một nhân loại mới. Từ vườn Ê-đen, Thiên Chúa đề nghị con người đối thoại với Người một cuộc đối thoại tình yêu, nhưng ông A-đam từ chối, nghi ngờ, phản kháng ; Chúa Giê-su thì trái lại, Người hướng về Chúa Cha trong một cuộc đối thoại tuyệt vời, không một phút nghi ngờ. Như thánh Gio-an tông đồ đã nói trong lời tựa của Tin Mừng thứ tư : “Người hướng về Thiên Chúa”. Người là lời đáp “Xin vâng” của nhân loại đối với Thiên Chúa. Vì thế, Chúa Giê-su chính là Đấng hoàn thành ý định (kế hoạch) của Thiên Chúa : Nơi Người, toàn thể nhân loại bước vào sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi.
Lời quả quyết thứ ba của thánh Gio-an Tẩy Giả về Chúa Giê-su : “Người là Con Thiên Chúa.” Vào thời của thánh Gio-an Tẩy Giả, kiểu nói này đồng nghĩa với Đấng Mê-si-a, nhưng chưa phải là một lời quả quyết thần học theo nghĩa chúng ta nói ngày nay là Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa theo nghĩa thánh Gio-an Tông Đồ nói trong lời tựa Tin Mừng thứ tư của ngài : “Người Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật.” Đối với thánh Gio-an Tẩy Giả, đó là một cách khác để nói “Chúa Giê-su chính là Đấng Mê-si-a.” Ông nói rất long trọng : “Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.”
Cuối cùng, thánh Gio-an Tẩy Giả quả quyết Chúa Giê-su xoá bỏ tội trần gian. Nếu tội lỗi của thế gian được xoá bỏ, nghĩa là con người đã bước vào thời đại Mê-si-a. Vào thời Gio-an Tẩy Giả, người ta biết rằng Đấng Mê-si-a sẽ thanh tẩy dân Người khỏi mọi tội lỗi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói ở chương 11 : “Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta, vì sự hiểu biết Đức Chúa sẽ tràn ngập mặt đất này, cũng như nước lấp đầy lòng biển” (Is 11,9b). Thánh Gio-an Tẩy Giả ý thức mình là người tiền hô, rao giảng sự thống hối, chuẩn bị tâm hồn con người đón nhận kỷ nguyên mới. Chính thánh nhân đã nói : “Tôi đến làm phép rửa trong nước để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en.” Thánh Gio-an Tẩy Giả tự xoá mình đi, như ông Si-mê-ôn, khi Đức Mẹ và thánh Cả Giu-se dâng Chúa Giê-su vào Đền Thờ Giê-ru-sa-lem : “Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi, vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân.” Thánh Gio-an Tẩy Giả cũng nói tương tự : “Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.” Thánh Gio-an Tẩy Giả đã chuẩn bị cho Đấng Mê-si-a ngự đến, và bây giờ ông nhường chỗ cho Người.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.
Tự vấn :
Chúng ta có đặt trọn niềm tin vào tình thương tha thứ của Chúa không ? Chúng ta có thường đến toà giải tội để xin Chúa ban ơn tha thứ và đổi mới không ?
B. BÀI ĐỌC THÊM
1. Dấu chỉ đến từ Thiên Chúa
(Mgr. L. Daloz, “Nous avons vu sa gloire”, Desclée de Brouwer).
Nơi ngọn nguồn của việc tỏ mình ra của Đức Giê-su, có chứng từ của Chúa Cha : “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.” Ta chỉ nhận biết Đức Giê-su sau lời mặc khải của Chúa Cha. Đức Giê-su thường nhắc lại : “Ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi” (6,45). Và chính Thánh Thần do Chúa Cha sai đến đã chỉ cho ông Gio-an Tẩy Giả biết Đức Giê-su. Nhờ ông, ta đi vào mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Ta chỉ nhận biết Đức Giê-su khi Thánh Thần Thiên Chúa đến mở mắt và chỉ cho ta thấy. Nếu không có Thánh Thần, không có lời chứng của các chứng nhân, ta sẽ không nhận biết Người. Người đâu phải là đối tượng của khoa học nhân văn mà ta có thể nhận dạng nhờ việc nghiên cứu và suy gẫm. Người là ngôi vị Con Thiên Chúa mà ta chỉ nhận biết được khi chính Thiên Chúa tỏ ra cho ta. Người là đối tượng của một chứng từ. Không ai có thể nhận biết Người nếu họ không có trái tim rộng mở đón nhận những dấu chỉ của Chúa Thánh Thần.
2. Con đường của Con Chiên
(H. Denis, “100 mots pour dire la foi”, Desclée de Brouwer).
Hằng bao lần ta đã chẳng đọc và nghe : Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian sao ? Thư thánh Phê-rô sử dụng một đề tài Kinh Thánh cổ xưa như chuyện phiêu lưu của ông Mô-sê bên Ai-cập. Tôi muốn cùng các bạn đi lại con đường của Con Chiên Thiên Chúa, Người đi từ sự báo oán giải thoát đến sự bất bạo động hoà bình.
Con đường ấy khởi đi từ một lịch sử đẫm máu. Dân Thiên Chúa được cứu khỏi Ai-cập nhờ máu Con Chiên. Con Chiên sẽ trở nên biểu tượng của công cuộc giải phóng Ít-ra-en. Vì, ta đừng quên điều này, cuộc gặp gỡ của ông Mô-sê ở bụi gai cháy đỏ không phải là một câu chuyện thần bí phóng đại hoặc truyện trẻ em ham thấy Chúa Mẹ hiện ra. Không, ông Mô-sê đã giết ngọt một tên Ai-cập đáng ngờ và Thiên Chúa của ông, dù chưa rõ tên Người, đã hứa nghe thấy dân Người đang bị nô lệ kêu xin. Như thế Con Chiên thuộc về phía cánh tay báo oán của Thiên Chúa, cùng với tất cả sức mạnh của Người.
Nhưng chẳng bao lâu, đặc biệt với các ngôn sứ (I-sai-a 53 và Giê-rê-mi-a 11…), Con Chiên này sẽ trở nên kiểu mẫu của những ai chết cho dân Người, như con cừu câm nín bị xén lông …
Thiên Chúa rời bỏ ngai Đấng Toàn Năng. Ta nói rằng Người đứng về phía Con Chiên chịu đau khổ. Như thể thời gian dần dần chín muồi để đón nhận một Đức Giê-su nào đó, được thánh Gio-an tuyên xưng là Đấng xoá tội trần gian, còn thư Phê-rô thì nhận là Con Chiên không khiếm khuyết, không tì vết, giải thoát ta khỏi một cuộc sống không mục đích như là chiên vất vưởng lầm lạc.
Nhưng sự đảo ngược hình ảnh chưa hoàn toàn. Cuộc giải phóng bằng việc báo oán của Thiên Chúa chưa chuyển hoá thành lễ dâng của một vật hy sinh tự nguyện và tự hạ. Thật vậy, Con Chiên phải mặc lấy những màu sắc và những hình thức của Sự Sống thật sự và của Vương Triều thiên quốc. Đó chính là Con Chiên của sách Khải huyền, hiện diện trong biết bao trang sách khi thời gian viên mãn.
Điều đó nhắc tôi nhớ tới một bức bích hoạ rất đẹp và rất cổ xưa ở vùng ngoại ô Lyon, trong đó ta thấy Đức Ki-tô vinh hiển dưới hình Con Chiên mặt người. Đó là cuộc khải hoàn của bình an, sức mạnh của sự bất bạo động của Thiên Chúa.
Vâng, chỉ Con Chiên mới có thể ban sự Bình An của lễ Phục Sinh, sự bình an được hứa ban cho thế giới đã được giải thoát. Xin ban bình an cho chúng con.
Suy niệm (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.)
ĐÃ THẤY VÀ LÀM CHỨNG
Khi thấy Đức Giêsu tiến về phía mình,
Gioan Tẩy giả đã giới thiệu Ngài với hai môn đệ:
“Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian”.
Một lời giới thiệu không dễ hiểu chút nào,
dù chiên là con vật không xa lạ gì với người Do Thái.
Người ta nuôi chiên trên đồng cỏ, để ăn thịt, lấy lông.
Chiên để dâng lễ toàn thiêu ban sáng và chập tối,
mỗi ngày hai con trong Đền thờ (Ds 28,3-4).
Chiên còn đóng một vai trò quan trọng trong lễ Vượt Qua.
Cả nhà quây quần ăn một con chiên vô tỳ tích (Xh 12,5).
Gioan giới thiệu Đức Giêsu là Chiên của Thiên Chúa.
Ngài là Con Chiên có khả năng xóa bỏ tội trần gian.
Đây là lời vị linh mục vẫn đọc trước khi hiệp lễ.
Xóa bỏ tội của cả trần gian
là điều người phàm không ai làm được,
nhưng đây lại là sứ mạng của Chiên Thiên Chúa.
Ngài sẽ xóa tội trần gian bằng cái chết trên thập giá,
sẽ được giương cao để kéo mọi người lên (Ga 12,32-33).
Vào giờ Đức Giêsu hấp hối trên thập giá,
tại Đền thờ Giêrusalem, người ta đang giết các con chiên
để chuẩn bị ăn lễ Vượt Qua vào buổi tối.
Giống như các con chiên đang bị đâm để làm thịt,
Đức Giêsu cũng bị đâm ở cạnh sườn
khiến máu và nước chảy ra (Ga 19,34).
Ngài trở thành Chiên Vượt qua bị sát tế trên thập giá
để cứu loài người khỏi ách tội khiên
và giao hòa họ với Thiên Chúa.
Để giúp chúng ta nhận ra Đức Giêsu là Con,
Thiên Chúa Cha đã làm việc một cách bài bản.
Ngài cần đến sự cộng tác của Gioan Tẩy giả,
và đã sai ông đi làm phép rửa trong nước,
để Người Con “được tỏ ra cho dân Ítraen” (Ga 1,31).
Gioan không biết Người Con này (Ga 1,31.33),
nên chính Thiên Chúa lại phải lên tiếng
và cho ông một dấu hiệu để nhận ra:
“Khi nào ông thấy Thần Khí ngự xuống
và ở lại trên ai, thì chính là Đấng ấy” (Ga 1,33).
Thiên Chúa Cha đã sai Thần Khí xuống trên Đức Giêsu
khi Người chịu phép rửa trong nước bởi Gioan.
Gioan đã thấy, nhờ đó ông làm chứng cho toàn dân:
“Tôi đã thấy nên xin làm chứng” (Ga 1,32.34).
Sau này, Maria Mácđala cũng sẽ làm chứng
sau khi chị thấy Chúa phục sinh:
“Tôi đã thấy Chúa” (Ga 20,18).
Các môn đệ cũng sẽ làm chứng trước ông Tôma:
“Chúng tôi đã thấy Chúa” (Ga 20,25).
Làm chứng là hành vi quan trọng của đời kitô hữu.
Có thể nói truyền giáo đơn giản là làm chứng.
Kitô giáo thành tôn giáo lớn nhất thế giới
nhờ dòng người kitô hữu làm chứng không ngừng.
Người trước làm chứng cho người sau.
Người cao tuổi làm chứng cho người trẻ tuổi.
Ai cũng nhận được kinh nghiệm từ người khác,
đồng thời cũng trao đi kinh nghiệm của cá nhân mình.
Kinh nghiệm càng phong phú, lời chứng càng đáng tin.
Muốn làm chứng một cách xác tín và mạnh mẽ,
mỗi người cần có kinh nghiệm “thấy” Chúa Giêsu.
Không phải thấy bằng mắt như các tông đồ xưa,
nhưng bằng kinh nghiệm đức tin, qua cuộc sống.
Hôm nay Chúa Cha vẫn cần các kitô hữu
như xưa Ngài đã cần Gioan Tẩy giả (Ga 1,6.33)
Ngài vẫn sai chúng ta đi, thì thầm với chúng ta,
và cho chúng ta dấu hiệu để nhận ra Chúa Giêsu,
Đấng vẫn đang đứng chung với tội nhân nghèo khó.
CẦU NGUYỆN
Lạy Chúa là Thiên Chúa của con,
Xin dạy trái tim con biết cách tìm Chúa
và biết tìm Chúa ở đâu,
biết cách gặp Chúa và biết gặp Chúa ở đâu.
Lạy Chúa,
Chúa là Chúa và là Thiên Chúa của con,
tuy con chưa bao giờ thấy Chúa.
Chúa đã tạo ra con và đã tái tạo con.
Chúa đã ban cho con mọi điều tốt đẹp con đang có.
Vậy mà con vẫn không nhận biết Ngài.
Con vẫn chưa làm tròn điều Chúa muốn khi dựng nên con.
Xin dạy con tìm Chúa,
vì con không thể tìm Chúa, nếu Chúa không dạy con,
con không thể gặp Chúa, nếu Chúa không tỏ mình cho con.
Xin cho con tìm Chúa trong ao ước của con,
và cho con ao ước Chúa trong khi con tìm kiếm.
Xin cho con gặp được Chúa nhờ yêu Chúa,
và xin cho con yêu Chúa khi con gặp Chúa.
(Thánh Alselmô ở Canterbury)
Suy niệm (Lm. Nguyễn Vinh Sơn, SCJ.)
Câu chuyện
Thiên Chúa giải phóng Do Thái khỏi ách người Ai Cập bằng một loạt sự can thiệp từ trời, mà một trong những sự can thiệp nổi bật nhất được xác định qua tai ương thứ mười: giết hại các con đầu lòng của người Ai Cập (Xh 11,5; 12,12.29…). Để cứu các con đầu lòng dân Do Thái cũng là dấu chỉ giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập, Chúa truyền cho họ giết một con chiên còn trong sạch (con cừu non), lấy máu bôi lên cửa. Đêm hôm ấy, thiên thần Chúa đến trừng phạt người Ai Cập, nhà nào có máu của con chiên bôi trên cửa sẽ được cứu thoát.
Để tưởng niệm việc được cứu sống và được giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập, từ đó, hằng năm vào đúng ngày ấy, người Do Thái vẫn giữ tập tục giết chiên mừng lễ. Lễ đó gọi là lễ Vượt Qua. Con chiên bị giết gọi là con chiên vượt qua.
Khi hiến mình đúng vào dịp lễ Vượt Qua, Đức Giêsu trở thành Chiên Vượt Qua mới. Máu Người đổ ra cứu linh hồn con người khỏi nô lệ tội lỗi và khỏi chết.
Suy niệm
“Ðây là Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa bỏ tội trần gian”, “tội trần gian” theo truyền thống thường hiểu là tội gốc, là tội nguyên tổ và những hậu quả di căn cho con người là tất cả những lỗi lầm, tội lỗi cá nhân.
Không chỉ thế, “tội trần gian” được nhắc đến trong Tin Mừng là ý niệm về một quyền lực “bóng tối” (x. Ga 8,12), chi phối và đè bẹp con người mất tự do. Thánh Gioan và thánh Giacôbê đã nhấn mạnh sự liên hệ giữa tội lỗi và thế gian (x. Ga 16,8.17,14; 1Ga 2,1; 2,15-17; 4,1.4.5; 5,19; Gc 1,27; 3,15; 4,4), chính thế lực tạo nên sự chống đối lại sự sáng – thánh ý của Thiên Chúa trong cuộc sống. Trong đó “tội trần gian” là sự thống trị của vật chất được hình tượng hóa bằng bò vàng mà dân Do Thái tôn thờ (x. Xh 32, 1-6). Hành vi tôn thờ bò vàng muốn nói lên là họ không cần đến Thiên Chúa, cắt khỏi sự gắn bó với Thiên Chúa, tự sức mình làm chủ cuộc đời và muốn thế giới theo ý mình. Chúng ta thấy rõ việc tôn thờ “bò vàng” qua cách sống thực dụng duy vật chất của người đời hôm nay. “Tội trần gian” còn là di căn của tội như đau khổ và phải chết do tội nguyên tổ, những hậu quả đi vào đời sống hàng ngày là những lo lắng ưu tư, những khốn khó, bệnh tật mà con người đang bị đè nặng từ khi bóng tối làm chủ thế gian…
“Đây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa bỏ tội trần gian”, thánh Gioan Chrysostome và thánh Augustin đã nhấn mạnh: “Chiên là biểu tượng của sự vô tội và của công chính. Người vô tội chết cho người có tội, người công chính chết cho nhân loại vốn mất ân sủng do tội, được trở nên công chính hóa”. Vì thế, Giáo hội tuyên tín từ xa xưa: “Khi Người tự hiến tế làm Chiên Vượt Qua của chúng con, Người hủy diệt tội lỗi xưa để đổi mới muôn loài sa ngã, và hoàn lại sự sống nguyên tuyền cho chúng con” (Kinh Tiền Tụng Phục Sinh IV).
Ðức Kitô – Chiên Thiên Chúa đã dùng giá máu mình để cứu chuộc nhân loại (x. 1Pr 1,18; Kh 5,9; Dt 9,12-15) được loan báo trước bằng hình ảnh máu chiên cứu dân Do Thái. Gioan, người môn đệ đã thấy hình ảnh Chiên Thiên Chúa hiến tế đã nhấn mạnh: Ngài đã cứu họ khỏi “bụi trần” (Kh 14,3); Phêrô xác tín thêm: Ngài đã cứu nhân loại khỏi cái thế giới buông theo gian tà phát sinh do đạo thờ ngẫu tượng (x. 1Pr 1,14.18; 4,2tt), nhờ đó từ nay họ có thể tránh tội (x. 1Pr 1,15tt; Ga 1,29; 1Ga 3,5-9), hình thành nên vương quốc tư tế mới, nên dân tộc được thánh hiến cho Thiên Chúa (x. 1Pr 2,9; Kh 5,9tt; Xh 19,6). Chính dân tộc thánh này sẽ dâng lên Thiên Chúa cuộc thờ phượng thiêng liêng bằng một đời sống không có gì chê trách được (x. 1Pr 2,5; Dt 9,14). Chính vì lẽ đó, tông đồ Phaolô khuyên người tín hữu hãy sống “tinh tuyền và chân thật” như bánh không men vì “Ðức Kitô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta” (1Cr 5,7).
Ước chi tôi và bạn đặt tất cả niềm tin và cuộc sống nơi Chiên Vượt Qua – Đức Kitô, trong Ngài chúng ta được chữa lành mọi vết thương, được giải phóng mọi tình trạng nô lệ ở đời này.
Ý lực sống
Chiên Vượt Qua là Kitô Đức Chúa
Đổ máu đào vô tội cứu sinh linh
Này bánh không men nuôi dưỡng lòng thành
Hồn trinh trắng khỏi sa vòng tục lụy…
(Thánh Thi Phục Sinh).



















