Chúa nhật 5 Thường niên năm A (Mt 5,13-16)

Chúa nhật 5 Thường niên năm A (Mt 5,13-16)

Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.

Bài đọc 1: Is 58,7-10

Ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

7 Đây là lời Đức Chúa phán :

“Ngươi hãy chia cơm cho người đói,
rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ ;
thấy ai mình trần thì cho áo che thân,
không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục ?
8Bấy giờ ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông,
vết thương ngươi sẽ mau lành.
Đức công chính ngươi sẽ mở đường phía trước,
vinh quang Đức Chúa bao bọc phía sau ngươi.
9Bấy giờ, ngươi kêu lên, Đức Chúa sẽ nhận lời,
ngươi cầu cứu, Người liền đáp lại : ‘Có Ta đây !’
Nếu ngươi loại khỏi nơi ngươi ở
gông cùm, cử chỉ đe doạ và lời nói hại người,
10nếu ngươi nhường miếng ăn cho kẻ đói,
làm thoả lòng người bị hạ nhục,
thì ánh sáng ngươi sẽ chiếu toả trong bóng tối,
và tối tăm của ngươi chẳng khác nào chính ngọ.”
 

Đáp ca: Tv 111,4-5.6-8a.9 (Đ. c.4a)

Đ.Giữa tối tăm bừng lên một ánh sáng
chiếu rọi kẻ ngay lành.

4Giữa tối tăm bừng lên một ánh sáng
chiếu rọi kẻ ngay lành :
đó là người từ bi nhân hậu và công chính.5Phúc thay người biết cảm thương và cho vay mượn,
biết theo lẽ phải mà thu xếp công việc mình.

Đ.Giữa tối tăm bừng lên một ánh sáng
chiếu rọi kẻ ngay lành.

6Họ sẽ không bao giờ lay chuyển,
thiên hạ muôn đời còn tưởng nhớ chính nhân.7Họ không lo phải nghe tin dữ,
hằng an tâm và tin cậy Chúa,8aluôn vững lòng không sợ hãi chi.

Đ.Giữa tối tăm bừng lên một ánh sáng
chiếu rọi kẻ ngay lành.

9Kẻ túng nghèo, họ rộng tay làm phúc,
đức công chính của họ tồn tại muôn đời,
uy thế họ vươn cao rực rỡ.

Đ.Giữa tối tăm bừng lên một ánh sáng
chiếu rọi kẻ ngay lành.

 

Bài đọc 2: 1 Cr 2,1-5

Tôi đã loan báo cho anh em mầu nhiệm Đức Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

1 Thưa anh em, khi tôi đến với anh em, tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa. 2 Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô, mà là Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá. 3 Vì thế, khi đến với anh em, tôi thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy. 4 Tôi nói, tôi giảng, mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa. 5 Có vậy, đức tin của anh em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan người phàm, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa.

 

Tin mừng: Mt 5,13-16

13 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.

14 “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. 15 Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. 16 Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”

 

Giáo lý cho bài giảng Chúa nhật 5 Thường niên năm A

WHĐ (03/02/2026) – Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh Thánh của lễ Chúa nhật 5 Thường niên năm A theo sự theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích.

Số 782: Sứ vụ của dân Chúa là làm muối đất và ánh sáng thế gian

Số 2044-2046: Đời sống luân lý và chứng từ truyền giáo

Số 2443-2449: Ánh sáng từ những việc từ thiện, tình yêu thương người nghèo

Số 1243: Những người chịu Phép Rửa (tân tòng) phải là ánh sáng cho trần gian

Số 272: Đức Kitô bị đóng đinh là sự khôn ngoan của Thiên Chúa

Bài Ðọc I: Is 58, 7-10

Bài Ðọc II: 1 Cr 2, 1-5

Phúc Âm: Mt 5, 13-16

Số 782: Sứ vụ của dân Chúa là làm muối đất và ánh sáng thế gian

Số 782. Dân Thiên Chúa có những đặc tính, phân biệt họ một cách rõ ràng với tất cả những tập thể trong lịch sử về tôn giáo, chủng tộc, chính trị hoặc văn hóa:

– Đây là dân của Thiên Chúa: Thiên Chúa không thuộc riêng một dân nào. Nhưng Ngài thủ đắc cho mình một dân từ những người trước kia không phải là một dân: “là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh” (1 Pr 2,9).

– Người ta trở nên phan tử của dân này, không nhờ sự sinh ra theo thể lý, nhưng nhờ sự sinh ra “bởi ơn trên”, “bởi nước và Thần Khí” (Ga 3,3-5), nghĩa là, nhờ đức tin vào Đức Kitô và nhờ bí tích Rửa Tội.

– “Dân này có Đấng làm Đầu là Chúa Giêsu Kitô (Đấng Được Xức Dầu, Đấng Messia): bởi vì cùng một Sự Xức Dầu, là Chúa Thánh Thần, chảy từ Đầu vào Thân thể, nên đây là “Dân thuộc về Đấng Được Xức Dầu”.

– “Dân này có phẩm giá và sự tự do của các con cái Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần ngự trong trái tim của họ như trong một đền thờ”[1].

– “Dân này có Luật là giới răn mới của yêu thương như chính Đức Kitô đã yêu thương chúng ta”[2]. Đó là Luật “mới” của Chúa Thánh Thần[3].

– Sứ vụ của dân này là làm muối đất và ánh sáng thế gian[4]. “Dân này là hạt giống chắc chắn nhất mang lại sự hợp nhất, niềm hy vọng và ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại”[5].

– Cuối cùng, mục đích của dân này là “Nước Thiên Chúa, đã được chính Thiên Chúa khởi sự nơi trần thế và ngày càng lan rộng, cho đến khi được chính Ngài hoàn tất trong ngày tận thế”[6].

 Số 2044-2046: Đời sống luân lý và chứng từ truyền giáo

Số 2044. Lòng trung thành của những người đã lãnh Phép Rửa là điều kiện tiên quyết đối với việc loan báo Tin Mừng và đối với sứ vụ của Hội Thánh trong trần gian. Để tỏ cho mọi người thấy sức mạnh của nó về chân lý và sự rạng ngời, sứ điệp cứu độ phải được chứng thực bằng chứng từ của đời sống các Kitô hữu. “Chính chứng từ của đời sống Kitô hữu và các việc tốt lành được thực thi với tinh thần siêu nhiên, có sức mạnh lôi kéo người ta đến với đức tin và đến với Thiên Chúa”[7].

Số 2045. Bởi vì là các chi thể của Thân Thể mà Đức Kitô là Đầu[8], các Kitô hữu góp phần vào việc xây dựng Hội Thánh bằng sự kiên trì trong xác tín của mình và trong đời sống luân lý của mình. Hội Thánh được tăng số, lớn lên và triển nở bằng sự thánh thiện của các tín hữu của mình[9], cho tới khi chính họ làm thành “con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô” (Ep 4,13).

Số 2046. Bằng đời sống theo Đức Kitô của mình, các Kitô hữu làm cho Nước Thiên Chúa mau đến, đó là “Nước của công bằng, của tình yêu và của bình an”[10]. Nhưng không vì thế mà họ xao lãng nhiệm vụ trần thế của mình; chính họ, trung thành với Thầy mình, chu toàn nhiệm vụ đó với sự ngay thẳng, với sự nhẫn nại và với tình yêu.

 Số 2443-2449: Ánh sáng từ những việc từ thiện, tình yêu thương người nghèo

Số 2443. Thiên Chúa chúc phúc cho những ai giúp đỡ người nghèo, và kết án những ai quay lưng lại với họ. “Ai xin thì hãy cho; ai muốn vay mượn, thì đừng ngoảnh mặt đi” (Mt 5,42). “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10,8). Chúa Giêsu Kitô nhận biết những kẻ được tuyển chọn của Người căn cứ vào những gì họ đã làm cho những người nghèo[11]. Khi “kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11,5)[12], thì đó là dấu chỉ sự hiện diện của Đức Kitô.

Số 2444. “Lòng yêu mến của Hội Thánh đối với người nghèo… được tiếp nối liên tục trong kinh nghiệm truyền thống của Hội Thánh”[13]. Tình yêu đó được linh hứng bởi Tin Mừng của các mối phúc[14], bởi sự khó nghèo của Chúa Giêsu[15] và sự quan tâm của Người đối với kẻ nghèo.[16] Tình yêu đối với người nghèo cũng là một trong những động lực thúc đẩy bổn phận làm việc để “có gì chia sẻ với người túng thiếu”[17]. Điều này không chỉ giới hạn ở sự nghèo khó về vật chất, nhưng còn hướng tới nhiều hình thức nghèo đói về văn hóa và tôn giáo[18].

Số 2445. Tình yêu đối với người nghèo không thể đi đôi với tình yêu vô độ đối với của cải hoặc việc sử dụng của cải cách ích kỷ:

“Giờ đây, hỡi những kẻ giàu có, các ngươi hãy than van rên rỉ về những tai họa sắp đổ xuống trên đầu các ngươi. Tài sản của các ngươi đã hư nát, quần áo của các ngươi đã bị mối ăn. Vàng bạc của các ngươi đã bị rỉ sét; và chính rỉ sét ấy là bằng chứng buộc tội các ngươi; nó sẽ như lửa thiêu hủy xác thịt các ngươi. Các ngươi đã lo tích trữ trong những ngày sau hết này. Các ngươi đã gian lận mà giữ lại tiền lương của những thợ đi cắt lúa trong ruộng của các ngươi. Kìa, tiền lương ấy đang kêu lên oán trách các ngươi, và tiếng kêu của những thợ gặt ấy đã thấu đến tai Chúa các đạo binh. Trên cõi đất này, các ngươi đã sống xa hoa, đã buông theo khoái lạc, lòng các ngươi đã được no đầy thỏa mãn trong ngày sát hại. Các người đã kết án, đã giết hại người công chính, và họ đã chẳng cưỡng lại các người” (Gc 5,1-6).

Số 2446. Thánh Gioan Kim Khẩu nhắc lại điều này một cách mạnh mẽ: “Không cho kẻ nghèo được chia sẻ của cải thuộc về mình, là ăn cắp của họ và cướp lấy mạng sống của họ; … của cải chúng ta đang nắm giữ, không phải là của chúng ta, nhưng là của họ”[19]. “Phải thỏa mãn những đòi hỏi của đức công bằng trước đã, kẻo những tặng phẩm đem cho, tưởng là vì bác ái, mà thật ra là phải đền trả vì đức công bằng”[20].

“Khi tặng bất cứ thứ gì cần thiết cho người nghèo, thì không phải chúng ta tặng những gì của chúng ta, nhưng là chúng ta trả lại cho họ những gì là của họ; chúng ta trả nợ theo đức công bằng, hơn là chúng ta làm những việc từ thiện”[21].

Số 2447. Các việc từ thiện là những hành vi bác ái, qua đó chúng ta giúp đỡ tha nhân những gì cần thiết cho thể xác và tinh thần của họ[22]. Dạy dỗ, khuyên nhủ, an ủi, khích lệ là những việc từ thiện về mặt tinh thần, cũng như tha thứ và nhẫn nhục chịu đựng. Các việc từ thiện về mặt vật chất gồm có: cho kẻ đói ăn, cho kẻ vô gia cư tạm trú, cho kẻ rách rưới ăn mặc, thăm viếng bệnh nhân và kẻ tù đày, chôn xác kẻ chết[23]. Trong các công việc đó, bố thí cho người nghèo[24] là một trong những bằng chứng chủ yếu của tình bác ái huynh đệ; đó cũng là việc thực thi đức công bằng làm đẹp lòng Thiên Chúa[25]:

“Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy” (Lc 3,11). “Tốt hơn, hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các ngươi” (Lc 11,41). “Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: ‘Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no’, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì ?” (Gc 2,15-16)[26].

Số 2448. “Sự khốn cùng của con người xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: cùng cực về của cải vật chất, sự đàn áp bất công, các bệnh tật thể lý và tâm thần, sau cùng là cái chết; tất cả những sự khốn cùng của con người này là dấu chỉ cho thấy tình trạng yếu đuối nguyên thủy, mà sau tội đầu tiên của ông Ađam, con người sống trong đó, và đó cũng là dấu chỉ cho thấy sự cần thiết của ơn cứu độ; những nỗi khốn cùng đó đã lôi kéo lòng thương xót của Đức Kitô, Đấng Cứu độ, Đấng đã muốn mang lấy những nỗi khốn cùng đó khi Người đồng hóa mình với ‘những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây’ (Mt 25,40.45). Vì vậy, những người gặp cảnh khốn cùng được Hội Thánh dành cho nhiều ưu ái hơn; ngay từ đầu, không bị cản trở vì tội lỗi của các phần tử của mình, do bổn phận của mình, Hội Thánh đã không bao giờ ngưng an ủi, bảo vệ và giải thoát những người đó. Thật vậy, Hội Thánh làm điều đó bằng vô số công việc từ thiện, những việc này là cần thiết ở mọi lúc và mọi nơi”[27].

Số 2449. Ngay từ Cựu Ước đã có những chỉ thị pháp lý đủ mọi loại (năm tha nợ, cấm cho vay lấy lãi và cầm cố, nghĩa vụ đóng thuế thập phân, trả lương mỗi ngày, quyền được mót ở ruộng lúa và vườn nho) đáp ứng lời khuyên của sách Đệ Nhị Luật: “Vì trong đất của anh (em) sẽ không thiếu người nghèo. Nên tôi truyền cho anh (em): hãy mở rộng tay giúp người anh em khốn khổ, nghèo khó của anh (em) trong miền đất của anh (em)” (Đnl 15,11). Chúa Giêsu làm cho lời này thành lời của Người: “Thật vậy, người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có; còn Thầy, anh em không có mãi đâu” (Ga 12,8). Nói vậy, Chúa Giêsu không muốn giảm nhẹ sự mãnh liệt của những lời tiên tri xưa kia: “Ta sẽ lấy tiền bạc mua đứa cơ bần, đem đôi dép đổi lấy tên cùng khổ” (Am 8,6), nhưng Người mời gọi chúng ta nhận biết sự hiện diện của Người nơi những người nghèo là anh em của Người[28].

“Ngày kia, khi thánh Rôsa Lima bị mẹ bà trách vì đã đón nhận những người nghèo, người bệnh vào nhà, bà trả lời mẹ: ‘Khi chúng ta phục vụ những người đau yếu, chúng ta là hương thơm tốt lành của Đức Kitô’”[29].

 Số 1243: Những người chịu Phép Rửa (tân tòng) phải là ánh sáng cho trần gian

Số 1243. Áo trắng nói lên cách tượng trưng người chịu Phép Rửa đã mặc lấy Đức Kitô , đã sống lại cùng với Đức Kitô. Cây nến được thắp sáng từ nến phục sinh nói lên rằng Đức Kitô đã chiếu dọi ánh sáng cho người tân tòng. Trong Đức Kitô, những người chịu Phép Rửa là “ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,14) .

Người tân tòng lúc đó là con cái Thiên Chúa trong Người Con Duy Nhất. Họ có thể đọc lời kinh của những người con Thiên Chúa: kinh Lạy Cha.

 Số 272: Đức Kitô bị đóng đinh là sự khôn ngoan của Thiên Chúa

Số 272. Đức tin vào Thiên Chúa là Cha toàn năng có thể bị thử thách do kinh nghiệm về sự dữ và đau khổ. Đôi khi Thiên Chúa có thể bị coi như vắng mặt và bất lực không ngăn chặn được sự dữ. Thật ra, Thiên Chúa là Cha đã mạc khải sự toàn năng của Ngài một cách hết sức huyền nhiệm trong việc Con của Ngài tự nguyện hạ mình và sống lại, nhờ đó Ngài đã chiến thắng sự dữ. Như vậy, Đức Kitô bị đóng đinh là sức mạnh của Thiên Chúa và sự khôn ngoan của Thiên Chúa “vì sự điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và sự yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1,25). Trong việc Đức Kitô sống lại và được tôn vinh, Chúa Cha biểu dương “sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực” của Ngài và cho thấy “quyền lực vô cùng lớn lao” của Ngài mà “Ngài đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu” (Ep 1,19-22).

 

 

 

Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)

Suy niệm: Muối và ánh sáng là nhu cầu thiết yếu không thể thiếu trong cuộc sống. Muối mặn giúp đồ ăn có ý vị và không bị hư thối. Ánh sáng cần thiết để chiêm ngắm, để làm việc và tránh được những tai họa. Chúa Giêsu ví người môn đệ của Ngài như muối và ánh sáng. Ðức Giêsu muốn các môn đệ ở giữa đời phải giúp cho cuộc đời có ý nghĩa. Vì thế, nếu muối không còn mặn, đèn không còn sáng, thì còn gì vô dụng bằng?

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đang hiện diện trong mỗi người chúng con. Xin Chúa giúp chúng con biết gìn giữ cho đèn chúng con luôn sáng, muối chúng con luôn mặn. Sự hiện diện của chúng con ở đâu phải gây được một tác động làm đẹp cho đời. Ðời chỉ đẹp khi biết hướng về nguồn Thiện Mỹ Tối Cao. Xin Chúa luôn ở trong chúng con và ở trong cuộc đời. Amen.

Ghi nhớ: “Các con là sự Sáng thế gian”.

 

Suy niệm (Lm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân)

CHIA SẺ LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1: Is 58,7-10

Thoạt nghe ta thấy bài đọc 1 hôm nay là một bài học về luân lý, nhưng thật ra hoàn toàn không phải như vậy, vì bản văn đề cập đến một vấn đề hoàn toàn khác. Chúng ta đang ở vào cuối thế kỷ VI trước Công nguyên ; cuộc hồi hương trở về quê cha đất tổ của dân Ít-ra-en từ chốn lưu đày Ba-by-lon đã hoàn tất, nhưng những hậu quả tai hại của cuộc lưu đày này thật là kinh khủng …

Đời sống tôn giáo được tái khởi động tại Giê-ru-sa-lem và người ta cố gắng làm đẹp lòng Thiên Chúa. Nhưng ngôn sứ I-sai-a được Chúa giao trách nhiệm đưa ra một sứ điệp khá tế nhị : Anh em làm vui lòng Thiên Chúa là việc tốt, nhưng không phải là những việc làm theo suy nghĩ của anh em. Ngôn sứ I-sai-a đưa ra những lời khiển trách nặng nề, vì có một số người quan niệm việc giữ đạo là một cách làm cho Thiên Chúa mắc nợ họ và phải đáp lại bằng những phúc lành, theo ý họ : “Chúng tôi ăn chay, sao Ngài không thấy ? Chúng tôi hãm mình, sao Ngài chẳng hay ? Này, ngày ăn chay, các ngươi vẫn lo kiếm lợi, vẫn áp bức mọi kẻ làm công cho mình. Này, các ngươi ăn chay để mà đôi co cãi vã, để nắm tay đánh đấm thật bạo tàn … Cách ăn chay mà Ta ưa thích là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục” (Is 58,3-4a.6-7).

Đây là một trong những bản văn nổi bật nhất của Cựu Ước. Điều đáng tiếc là chúng ta ít khi đọc bản văn này, vì làm đảo lộn ý nghĩ của chúng ta về Thiên Chúa và về tôn giáo. Tuy nhiên, ở đây chúng ta có được câu trả lời cho một trong những câu hỏi lớn nhất của chúng ta : “Thiên Chúa muốn gì ở chúng ta ?” Từ nhiều thế kỷ qua, trong dân Ít-ra-en, không phải là sau cuộc lưu đày ở Ba-by-lon trở về, mà từ ông Áp-ra-ham, nghĩa là vào khoảng gần 1800 năm trước Công nguyên, người ta đã tìm cách làm đẹp lòng Chúa. Người ta thử đủ mọi cách : trước hết là sát tế con người, nhưng Thiên Chúa không chấp nhận việc này. Lúc bấy giờ người ta tiếp tục dâng của lễ nhưng chỉ là súc vật ; và rồi như trong tất cả các tôn giáo, người ta tin rằng ăn chay, dâng của lễ, cầu nguyện là những việc đẹp lòng Thiên Chúa. Trải qua dòng thời gian, các ngôn sứ kêu gọi dân chúng đừng chỉ thoả mãn với việc phụng tự, nhưng điều đặc biệt quan trọng là phải sống Giao ước mỗi ngày. Đây là ý nghĩa của bài đọc 1 chúng ta vừa nghe. Ngôn sứ I-sai-a mời gọi chúng ta biết chia sẻ với những người chung quanh, nhất là những người nghèo khổ bất hạnh : cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc. Tóm lại là ta phải luôn mở rộng con tim, mở rộng đôi bàn tay để sẵn sàng giúp đỡ những ai đang thật sự gặp hoạn nạn mà chúng ta gặp gỡ trong cuộc sống thường ngày. Ta suy niệm ba điểm :

1. Thứ nhất, những cử chỉ giải thoát, những cử chỉ chia sẻ mà ngôn sứ I-sai-a khuyên chúng ta làm, chỉ là việc bắt chước chính những việc làm của Thiên Chúa. Dân Ít-ra-en đã có nhiều kinh nghiệm về hành động giải thoát của Thiên Chúa và lòng trắc ẩn của Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, và điều Thiên Chúa đòi hỏi nơi chúng ta là làm giống như Người đã làm : tận tình giúp đỡ những ai đang đói rách bần cùng, vì con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa.

2. Thứ hai, do đó chúng ta không ngạc nhiên khi ngôn sứ I-sai-a hứa : “Nếu ngươi nhường miếng ăn cho kẻ đói, làm thoả lòng người bị hạ nhục, thì ánh sáng ngươi sẽ chiếu toả trong bóng tối, và tối tăm của ngươi chẳng khác nào chính ngọ.” Chắc chắn là nói về chính ánh sáng của Thiên Chúa, hay nói cách khác, ngôn sứ I-sai-a quả quyết : khi ta cho đi là ta phản ánh sự hiện diện của Thiên Chúa. Một lần nữa, ta có thể lặp lại câu nói nổi tiếng của truyền thống Ki-tô giáo : “Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời”, đặc biệt là lời của Chúa Giê-su trong sách Công vụ Tông Đồ : “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35).

3. Thứ ba : Tất cả mọi việc làm công bằng, chia sẻ đều là một bước tiến đến Nước Thiên Chúa, bởi vì Nước Trời mà Cựu Ước chờ đợi là nơi mà đức công bằng và tình yêu thương luôn hiện hữu. Bài Tin Mừng của Chúa nhật tuần trước về “tám mối phúc thật” nhắc chúng ta nhớ rằng Nước Trời được hình thành từ ngày này sang ngày khác bởi những người sống hiền lành, trong sạch, xây dựng hoà bình, đói khát sự công chính và hay thương xót.

2. Đáp ca:  Tv 111

Thánh vịnh 111 cho ta thấy người công chính thật hạnh phúc biết bao. Chúng ta cùng suy niệm trích đoạn của thánh vịnh chúng ta vừa nghe. Theo thói quen trong các Chúa nhật của mùa Thường Niên, những câu trích của thánh vịnh 111 hôm nay là tiếng dội lại ý nghĩa của bài đọc 1 chúng ta vừa nghe. Ai quan tâm đến đức công bằng và được Thiên Chúa hứa ban cho ánh sáng, thì đến lượt mình, cũng phải trở nên ánh sáng soi đường cho người muốn sống ngay thẳng : “Giữa tối tăm bừng lên một ánh sáng chiếu rọi kẻ ngay lành, đó là người từ bi, nhân hậu và công chính. Phúc thay người biết cảm thương và cho vay mượn, biết theo lẽ phải mà thu xếp công việc mình.”

Một người như thế được danh thơm tiếng tốt, nhất là lòng quảng đại của đương sự phản ánh lòng tin tưởng của người này đối với Thiên Chúa : “Họ sẽ không bao giờ lay chuyển, thiên hạ muôn đời còn tưởng nhớ chính nhân. Họ không lo phải nghe tin dữ, hằng an tâm và tin cậy Chúa, luôn vững lòng không sợ hãi chi.” Lòng tin tưởng này làm cho người công chính trở nên kiểu mẫu cho việc chia sẻ cho những người nghèo khổ : “Kẻ túng nghèo, họ rộng tay làm phúc, đức công chính của họ tồn tại muôn đời, uy thế họ vươn cao rực rỡ.”

3. Bài đọc 2 : 1 Cr 2,1-5

1. Như thường lệ, thánh Phao-lô đưa ra những điểm tương phản. Điểm tương phản đầu tiên là mầu nhiệm của Thiên Chúa hoàn toàn khác với sự khôn ngoan của loài người ; điểm tương phản thứ hai là lời rao giảng của thánh Phao-lô loan báo mầu nhiệm hoàn toàn khác với lời nói hùng biện của loài người. Ta cùng suy niệm về hai điểm tương phản này : Mầu nhiệm của Thiên Chúa và sự khôn ngoan của loài người ; lời rao giảng của thánh Phao-lô và sự hùng biện của loài người.

Trước hết là sự tương phản giữa mầu nhiệm của Thiên Chúa và sự khôn ngoan của loài người. Thánh Phao-lô nói rằng ngài đến để “loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa”. Ta phải hiểu rằng qua đó “ý định nhân hậu” của Thiên Chúa mà thư Ê-phê-xô triển khai sau này : ý định nhân hậu của Thiên Chúa là giúp nhân loại hiệp thông tình yêu trọn vẹn xung quanh Đức Giê-su Ki-tô. Vì vậy, ý định nhân hậu của Thiên Chúa dựa trên những giá trị của tình yêu, sự phục vụ lẫn nhau, ân sủng tha thứ, và ai cũng đều thấy rõ là Đức Giê-su đã thực hiện suốt cuộc đời trần thế của Người.

2. Mầu nhiệm này của Thiên Chúa được hoàn thành bởi “một Đấng Mê-si-a bị đóng đinh”. Điều đó hoàn toàn trái ngược với lý luận của loài người, gần như là nghịch lý. Thánh Phao-lô quả quyết : Đức Giê-su Na-da-rét chính là Đấng Mê-si-a, nhưng không như dân Ít-ra-en chờ đợi. Người ta không chờ đợi một người bị đóng đinh. Quan niệm của loài người cho rằng người bị đóng đinh không thể là Đấng Mê-si-a được. Tất cả mọi người Ít-ra-en lúc nào cũng có trong đầu họ câu sau đây của sách Đệ nhị luật : “Khi một người có tội đáng phải án chết đã bị xử tử, và anh em đã treo nó lên cây, thì xác nó không được để qua đêm trên cây, nhưng anh em phải chôn ngay hôm ấy, vì người bị treo đó là đồ bị Thiên Chúa nguyền rủa” (Đnl 21,22-23).

Tuy nhiên, ý định nhân hậu của Thiên Chúa “không gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô”, như thánh Phao-lô đã nói. Khi ngài làm chứng về niềm tin của mình, ngài không nói gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô : đối với thánh Phao-lô, Đức Giê-su Ki-tô đích thực là trung tâm của lịch sử nhân loại, trung tâm kế hoạch cứu độ, và là trung tâm đức tin của ngài. Ngài không muốn biết điều gì khác : “Tôi không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô, mà là Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá.” Qua câu nói này, ta nhận ra những khó khăn đủ loại mà thánh Phao-lô phải đương đầu, từ những lời thoá mạ, kể cả những lần bị bách hại. Đấng Mê-si-a bị đóng đinh dạy ta hiểu rằng sự khôn ngoan đích thực, sự khôn ngoan của Thiên Chúa, là ân sủng và tha thứ, không chấp nhận bạo lực. Chúng ta đã nghe tất cả những điều đó trong bài Tin Mừng về “tám mối phúc thật” Chúa nhật tuần rồi.

Đối diện với sự khôn ngoan của Thiên Chúa, sự khôn ngoan của loài người là một sự khôn ngoan duy lý, đưa ra những lý lẽ để thuyết phục, dựa vào tài năng, uy quyền. Sự khôn ngoan này chúng ta không nghe trong sứ điệp của Tin Mừng, đàng khác, thánh Phao-lô đã gặp thất bại ở A-then, đỉnh cao của nền triết học ngày xưa.

3. Sự đối chọi thứ hai trong bản văn : ngôn ngữ hay lời rao giảng của thánh Phao-lô hay thuật hùng biện. Thánh nhân không hề nhắm đến vấn đề hùng biện, nhưng ngài đi xa hơn nữa. Đối với ngài, dùng hùng biện để thuyết phục người khác chỉ là một trở ngại vì hoàn toàn không phù hợp với sứ điệp Tin Mừng. Loan báo Tin Mừng không phải là khoe khoang sự hiểu biết hay đưa ra những lập luận. Đức tin, giống như tình yêu, không phải là việc thuyết phục. Bạn thử đi thuyết phục một người nào đó yêu bạn thử xem kết quả ra sao. Ta biết rằng trong tình yêu không có vấn đề lý luận, vì con tim có những lý lẽ riêng của nó. Đối với mầu nhiệm Thiên Chúa lại càng không hơn nữa. Người tín hữu chúng ta chỉ có thể bước vào mầu nhiệm tình yêu đó từ từ mà thôi.

Mầu nhiệm về một Đấng Mê-si-a tôi tớ, một Đấng Mê-si-a chịu đóng định không thể được loan báo bằng uy quyền, vì trái ngược với mầu nhiệm được loan báo ! Chính trong sự nghèo khó mà Tin Mừng được rao giảng. Đó là điều mang lại cho ta lòng can đảm ! Đấng Mê-si-a nghèo khó chỉ có thể được rao giảng bằng những phương tiện nghèo khó, Đấng Mê-si-a tôi tớ chỉ có thể được rao giảng bởi những người tôi tớ. Vì thế đừng quá lo lắng mình không phải là nhà hùng biện, vì sự nghèo khó trong lời diễn đạt của chúng ta rất phù hợp với sứ điệp của Tin Mừng, Thánh Phao-lô đi xa hơn nữa khi nói rằng đời sống nghèo khó của những người rao giảng là cần thiết cho việc rao giảng thành công, và phó thác mọi sự cho Chúa. Không phải thánh Phao-lô đã thuyết phục những người Cô-rin-tô, mà là Thánh Thần Chúa đã đem lại cho lời rao giảng của thánh Phao-lô sức mạnh của chân lý và giúp người Cô-rin-tô khám phá ra Đức Ki-tô.

4. Từ đó, ta có thể kết luận rằng không phải nhờ sức mạnh của lý luận mà thánh Phao-lô thuyết phục được những người đương thời với mình, mà là chính Thánh Thần của Thiên Chúa đã làm việc đó : “Khi đến với anh em, tôi thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy. Tôi nói, tôi giảng, mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa.”

4. Bài Tin Mừng : Mt 5,13-16

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su mời gọi tất cả chúng ta hãy giữ vững phẩm chất của người Ki-tô hữu, làm tròn vai trò chứng nhân cho Thiên Chúa là Tình Yêu. Nhân dịp này, tôi mời anh chị em cùng với tôi, chúng ta tìm hiểu xem muối còn có ý nghĩa gì khác nữa không ngoài việc giữ cho thực phẩm khỏi hư và làm cho thức ăn thêm ngon ?

Theo Kinh Thánh, muối có nhiều ý nghĩa : từ cái chết, hình phạt, sự khô cằn cho tới sự thanh tẩy, sự lâu bền. Trong Cựu Ước, muối liên hệ với các biến cố chết chóc và hoang tàn (St 19,26), kể lại việc Chúa hoả thiêu hai thành phố tội lỗi là Xơ-đôm và Gô-mô-ra, và việc bà Lót bị hoá thành tượng muối vì đã làm trái lệnh Chúa – cần nói rõ ý nghĩa sự kiện này ; việc ông A-vi-me-léc triệt hạ thành và tháp Si-khem và rắc muối lên thành. Hành động này nói lên muối làm cho đất ra hoang hoá, khô cằn, đất bị chúc dữ (Tl 9,45). Tuy nhiên, muối cũng là biểu tượng của sự thanh tẩy (2 V 2,19-22), kể lại việc ngôn sứ Ê-li-sa dùng muối để khử độc cho suối nước, khiến nước suối hoá lành để dân thành Giê-ri-khô có thể uống được mà không còn gây chết chóc và nạn vô sinh cho dân thành này nữa. Muối còn tượng trưng cho sự bền lâu và tốt lành của Giao ước (Ds 18,19) : “Tất cả các phần trích dâng trong các của lễ thánh mà con cái Ít-ra-en dâng Đức Chúa, Ta đều ban cho ngươi cũng như cho con trai con gái ngươi, chiếu theo một quy luật vĩnh viễn. Đó là giao ước muối muôn đời tồn tại trước nhan Đức Chúa, cho ngươi và dòng dõi ngươi.” Đây là lời Chúa phán với ông A-ha-ron. Như thế, muối được dùng trong bữa ăn hiệp thông, như để đóng ấn một Giao ước, ngụ ý cho Giao ước khỏi bị phá vỡ (Lv 2,13) : “Các ngươi phải bỏ muối vào mọi lễ phẩm các ngươi dâng tiến ; các ngươi không được để lễ phẩm các ngươi thiếu muối của Giao ước của Thiên Chúa các ngươi ; các ngươi phải dâng muối cùng với mọi lễ tiến của các ngươi.”

Còn trong Tân Ước, Chúa Giê-su đòi hỏi các môn đệ phải trở thành muối cho đời, nghĩa là trở nên yếu tố xúc tác, gây ảnh hưởng lan toả trên thế giới, cũng như có tác dụng gìn giữ và làm cho thế giới thêm mặn nồng trong Giao ước với Thiên Chúa.

Kết: Để có thể trở thành muối ướp mặn đời và ánh sáng cho trần gian, người Ki-tô hữu chúng ta cần sống trọn vẹn niềm tin đã lãnh nhận, một niềm tin sắt son, mà nói như thánh Phao-lô tông đồ trong thư gửi tín hữu Rô-ma, đức tin đòi buộc chúng ta sống đức ái, mà sống đức ái là chu toàn cả lề luật của Chúa. Nhờ sống đức ái mà chúng ta làm tròn vai trò chứng tá của Thiên Chúa tình yêu và là Cha giàu lòng thương xót. Một vài câu chuyện minh hoạ : Thánh Vinh-sơn Phao-lô, thánh nữ Tê-rê-xa Can-cút-ta, viên sĩ quan hiến binh Pháp, Arnaud Bertrame, các tu sĩ và linh mục tình nguyện dấn thân giúp đỡ những người bị nhiễm Covid trong các khu cấp cứu của các bệnh viện thu dung, trong đợt bùng phát đại dịch Covid lần thứ tư tại thành phố chúng ta cách đây mấy năm.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giê-su, Chúa dạy chúng con : “Anh em là muối ướp mặn đời, là ánh sáng cho trần gian, nghĩa là phải luôn giữ vững phẩm chất của người Ki-tô hữu.” Xin Chúa ban ơn trợ giúp để mỗi người chúng con có thể sống như Chúa đã dạy, nhờ thực hành lời Chúa trong đời sống đức tin thường ngày.

Tự vấn:

Chúng ta đã thật sự trở nên muối ướp mặn đời và ánh sáng cho trần gian qua chính đời sống của chúng ta chưa ?

 

BÀI ĐỌC THÊM

1. Muối và ánh sáng

(Mgr. L. Daloz, trong “Nước Trời đến gần”, Desclée de Brouwer, 1994, trang 48-49).

Anh em là muối cho đời.” Để có ích, muối không được mất vị của nó : nó chỉ là gia vị ! Chính nó không phải là thức ăn, ít ra thường là như vậy : nó giúp cho thức ăn có hương vị. Trở nên nguồn hương vị thơm ngon, đó là nét độc đáo của chúng ta, những người theo Đức Ki-tô, trong thế giới chúng ta đang sống. Nét độc đáo này giúp chúng ta trở nên hữu ích cho đời nhờ sự khác biệt của nó. Chúng ta không được đánh mất sự khác biệt này : Nếu muối lạt đi thì lấy gì ướp nó cho mặn lại được ? Sự khác biệt của chúng ta không ở nơi bản chất riêng của mình hay nơi những tính tốt chúng ta có. Chúng ta không tự hào là những người tốt nhất hoặc muốn dạy người khác. Chúng ta cũng được nhào nặn bởi cùng một thứ bột như tất cả mọi người. Chúng ta cũng gặp những thuận lợi và những chướng ngại trong chúng ta và chung quanh chúng ta như mọi người. Nhưng chúng ta ra lạt khi không còn liên kết với Đức Ki-tô, khi không còn quy chiếu về Người, khi Người không còn là men cho đời sống chúng ta. Lúc đó cuộc sống chúng ta và thế giới chúng ta sống sẽ thiếu “hương vị” ; bởi vì sứ mạng của chúng ta là làm cho thế giới này biết “thưởng thức” Đức Ki-tô và Tin Mừng của Người !

Hình ảnh ánh sáng nối tiếp và làm rõ hình ảnh về muối : “Anh em là ánh sáng thế gian.” Ánh sáng là để nhìn, nhưng tự nó không đủ. Nó vô dụng nếu nó không soi cho cái gì hết. Đức Giê-su đặt các môn đệ của Người trong thế gian và quy chiếu với thế gian. Người không kêu gọi họ sống khép kín, tách rời người khác. Thánh Gio-an cũng nói như vậy nhưng diễn tả cách khác : “Con sai họ đến trong thế gian” (Ga 17,18). Chính vì vậy, các Ki-tô hữu sống trong thế gian và trong những hoàn cảnh như mọi người không những là điều bình thường mà còn cần thiết nữa … Họ không sống trong một thế giới khác ! Chúng ta phải thực hiện những công việc của ánh sáng, nghĩa là những hành vi tốt hay những việc làm tốt được ánh sáng Thiên Chúa soi chiếu để trở thành những việc làm của chính Thiên Chúa. Nói vậy không có nghĩa là Thiên Chúa mời gọi chúng ta tin rằng mình là người tốt hơn người khác hoặc tự mình, mình có thể hành động tốt hơn họ, bởi vì mọi công việc chúng ta làm đều quy về vinh quang Thiên Chúa là nguồn ánh sáng : “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha anh em, Đấng ngự trên trời”. Nơi Đức Giê-su, ánh sáng đã toả chiếu trong thế gian. Chúng ta chỉ phản chiếu lại ánh sáng này. Đời sống, hành vi của chúng ta trở nên tấm gương phản chiếu vinh quang Thiên Chúa, trở nên nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người.

2. “Thấm nhập vào nơi thâm sâu của thế giới bằng sức mạnh linh hoạt của muối về sự chiếu toả của ánh sáng”

(J. Giullet, trong “Giê-su trong niềm tin của các môn đệ đầu tiên”, Desclée de Brouwer, 1995, tr. 110-111).

Thánh Mát-thêu đã xen kẽ hai đoạn ngắn với hình thức dụ ngôn về muối và ánh sáng vào giữa các Mối Phúc và những điều Đức Giê-su công bố về Luật (Do-thái). Cả hai đoạn này đều nhắm một nhóm riêng, phân biệt rõ ràng với những người đi theo nghe Người giảng, bởi vì nhóm này phải hành động theo lời Người dạy : “Anh em là muối cho đời … Anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,13.14). Trong bối cảnh Bài Giảng Trên Núi, rõ ràng Đức Giê-su nói với các môn đệ theo Người. Và nếu không loại bỏ đám đông náo nức theo Người, chúng ta có thể tin rằng sứ điệp của Đức Giê-su đã gây một tiếng vang nào đó trong đám đông và có thể một hạt nhân các môn đệ thành hình, gồm phụ nữ và đàn ông muốn theo Chúa. Tuy nhiên họ không làm thành một dân tộc mới, họ vẫn luôn thuộc về dân của ông Áp-ra-ham, của ông Mô-sê : họ là những người mang sứ điệp mới trong dân tộc họ. Điều này không có gì là lạ bởi vì người Ít-ra-en đã có thói quen nghe các ngôn sứ nói đến tương lai mà Thiên Chúa đang chuẩn bị, tương lai đó có lúc đen tối, có lúc lại rực rỡ. Tuy nhiên, tương lai Đức Giê-su phác hoạ hoàn toàn khác trước.

Ở đây, sự song hành với biến cố Xi-nai giúp làm sáng tỏ hơn. Một nhóm nhỏ những người dân dã tương ứng với dân chúng đông đảo tụ tập dưới chân núi của Thiên Chúa. Nhưng trong khi ơn gọi của dân Ít-ra-en là làm chứng cho Thiên Chúa và là dấu chỉ sự chúc phúc của Thiên Chúa ở giữa các dân tộc, thì sứ mạng của nhóm hạt nhân nhỏ này là thấm nhập vào nơi thâm sâu của thế giới bằng sức mạnh linh hoạt của muối và sự chiếu toả của ánh sáng. Ông Áp-ra-ham là người được Thiên Chúa chúc phúc và mọi dân tộc trên mặt đất đều được chúc phúc qua ông (St 12,1). Dân Ít-ra-en của ông Mô-sê phải trở nên một dân tộc lớn và mọi dân tộc khác đều thán phục cách ăn ở và tinh thần của họ : “Anh em phải giữ và đem ra thực hành, vì nhờ đó anh em sẽ được các dân coi là khôn ngoan và thông minh. Khi được nghe tất cả những thánh chỉ đó, họ sẽ nói : ‘Chỉ có dân tộc vĩ đại này mới là một dân khôn ngoan và thông minh !’” (Đnl 4,6). Theo Đức Giê-su chỉ có một số môn đệ. Tuy sống trong lòng một thế giới còn chưa biết đến mình, nhưng họ lại mang theo mình một sức mạnh khả dĩ biến đổi thế giới. Bởi vậy, sự toả chiếu của các mối phúc trở nên động lực cuộc sống.

3. “Xin hãy trao ban chính bạn làm muối ướp đời tôi”

(H. Denis, trong “100 từ để nói về niềm tin”, Desclée de Brouwer, 1993, tr. 95-96).

Muối ! Tại sao lại chọn vật nhỏ bé chẳng là chi hết này ngoài công dụng như một thứ gia vị ? Một số Ki-tô hữu không còn quen dùng nữa. Giáo Hội đôi khi còn nuối tiếc việc bỏ không dùng muối trong bí tích Thánh Tẩy. Mọi sự tiếc nuối vô ích khi mà nó không thúc đẩy người ta dấn thân.

Muối Tin Mừng còn quan trọng hơn một nghi lễ rất nhiều. Bạn hãy mường tượng–và chúng ta còn sửng sốt về điều này–muối là chính bạn, là chính tôi, là tất cả môn đệ Đức Giê-su. Môn đệ Đức Giê-su là–phải là–muối cho đời. Chỉ vậy thôi !

Một tham vọng ghê gớm, nếu chúng ta tự cho mình là những người tốt nhất, là gia vị duy nhất trong đám đông nhạt thếch, không có vị mặn. Nhưng đó sẽ là một trách nhiệm lớn lao nếu Đức Giê-su trao cho chúng ta một sứ mạng như vậy và cách thế để thực hiện nó.

Vâng, trước hết chúng ta có trách nhiệm của một loại giao ước giữa cái là muối và cái chưa phải là muối. Một thế giới không có muối thì chẳng có một chút hương vị nào, nhưng nếu ở ngoài thế giới này thì muối cũng vô dụng. Ki-tô hữu và thế gian là hai thành phần liên kết với nhau. Cả hai được tạo dựng để trộn lẫn với nhau. Hơn nữa, người trước tiên được lợi chính là người Ki-tô hữu, vì họ phải ướp mặn nơi họ tất cả những gì chưa là Ki-tô hữu.

Một trách nhiệm khác mà bạn biết rất rõ, đó là đừng ra nhạt. Bạn đừng nghĩ rằng để tránh điều này bạn phải trốn khỏi thế gian. Ắt hẳn sẽ có nguy cơ bị tan rã ở đó cách đơn thuần và dễ dàng. Nhưng muối mà chất đống và để nguyên một chỗ cũng có nguy cơ bị phân huỷ đi.

Vậy, bạn hãy nói cho tôi biết, nếu giữa người với người, giữa những Ki-tô hữu với nhau, chúng ta cố gắng duy trì vị, hương … cho thế giới của chúng ta thì phải làm thế nào ? Không thể chỉ cậy vào mình. Phải có thể nói : Xin đưa cho tôi chút muối !” Như là trong bữa ăn của đôi vợ chồng, của cha mẹ và con cái.

Vâng, nếu có bao giờ Tin Mừng nơi bạn nhạt nhẽo đi thì luôn có một người anh, một người chị để bạn hoàn toàn tin tưởng nói với họ : “Xin hãy trao ban chính bạn làm muối ướp đời tôi!”

 

Suy niệm (Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ)

MUỐI CHO TRÁI ĐẤT

Cha mẹ Công giáo thường dạy con:

mình là con nhà có đạo nên không được làm như thế.

Đôi khi chúng ta cũng thiếu tế nhị khi hỏi một người:

“Anh hay chị có đạo không?”

Làm như thể người không Công giáo thì không có đạo!

Có đạo, vào đạo, theo đạo, giữ đạo

là những lối nói quen được sử dụng.

Trở nên người Công giáo đúng là đi vào một Con Đường,

đi theo một Con Người, và giữ giáo huấn của Người ấy.

Nhưng bài Tin mừng hôm nay còn cho thấy một nét khác.

Đó là sống đạo, vì đạo đòi phải đi vào cuộc sống,

đòi phải đến với thế giới, với mọi người.

Đức Giêsu đã cho các môn đệ biết căn tính của họ

nếu họ sống các Mối Phúc Ngài vừa nói.

“Các con là muối của trái đất, là ánh sáng của thế giới.”

Chẳng có định nghĩa nào bao quát hơn thế!

Trái đất này, thế giới này là địa bàn hoạt động của môn đệ.

Cuộc sống của họ gắn liền với mọi người ở mọi nơi.

Chẳng có định nghĩa nào cao cả hơn thế!

Chỉ Chúa Giêsu mới là ánh sáng thế gian (Ga 8,12; 9,5).

Khi nên một với Ngài, môn đệ cũng thành ánh sáng.

Trái đất này cần các môn đệ như cần muối.

Thế giới này cần các kitô hữu như cần ánh sáng.

Làm sao con người có thể sống mà không có muối?

Làm sao thế giới có thể tồn tại mà không có ánh sáng?

Đối với Chúa Giêsu, các môn đệ đóng vai trò quan trọng,

vai trò không thể thiếu được.

Nếu cuộc sống hôm nay trở nên vô vị, hư hỏng,

thì các môn đệ phải chịu một phần trách nhiệm,

vì họ là muối đã bị biến chất, không còn vị mặn nữa.

Muối đã nhạt thì chẳng ướp được ai.

Thế giới hôm nay trở nên tối tăm vì hận thù,

u ám bởi chiến tranh tàn phá,

vì người môn đệ Chúa Kitô chưa thật là ánh sáng,

hay là ánh sáng nhưng lại che giấu đi.

Là kitô hữu, là môn đệ Chúa Giêsu,

chúng ta cứ phải kiểm tra về chất lượng muối của mình,

kiểm tra xem đèn của mình có tỏa sáng không.

Muối tốt thế nào cũng làm cho người ta lại gần nhau,

tình người thêm mặn mà,

bảo quản lâu bền những mối dây thân ái.

Đèn sáng thế nào cũng đuổi xa bóng tối,

và kéo mọi người trong nhà ngồi xích lại gần nhau.

Những việc tốt đẹp ta làm khiến ta tỏa sáng,

nhưng chúng ta không tỏa sáng để tìm tiếng cho mình.

Nhờ ánh sáng của tôi mà người ta gặp ánh sáng Chúa.

Đèn sáng đặt trên đế, thành phố nổi bật trên đồi,

đó là hình ảnh về cuộc sống người môn đệ:

không mặc cảm tự ti, không che giấu viên ngọc mình có,

không khép kín, quay vào mình hay coi mình là trung tâm,

nhưng luôn tìm vinh danh cho Thiên Chúa.

Chúa Giêsu dạy các môn đệ học sự hiện diện của muối.

Muối lặng lẽ ngấm vào thức ăn.

Từ bên trong, muối âm thầm biến đổi mọi sự,

mà vẫn giữ nguyên mọi sự, rồi muối tan biến đi.

Chúa mời ta học sự hiện diện của ngọn đèn.

Đèn được trên đế cao, không phải để được ca tụng,

nhưng để dễ dàng soi sáng mọi người trong nhà.

Ánh sáng của ngọn đèn dầu đem lại niềm vui và sự sống.

Đèn trao đi ánh sáng và chấp nhận dầu bị hao đi.

Sống với người khác như nắm muối, như ngọn đèn dầu,

đó là lối sống của người môn đệ:

biến đổi thế giới qua trao hiến và biến tan chính mình.

Tiếc thay đã và đang có những kitô hữu thành muối nhạt,

những người nhút nhát, thích lấy thùng để che đèn,

hay tự cao, thích mọi người ngắm ánh sáng của mình.

Giáo Hội đã có nhiều gương xấu tồi tệ,

khiến người ta thấy ở đó có nhiều bóng tối hơn ánh sáng.

Xin cho chúng con trở thành môn đệ như Chúa muốn.

LỜI NGUYỆN

Lạy Chúa Giêsu,

Xin giúp con tỏa hương thơm của Chúa nơi mọi nẻo đường.

Xin đổ tràn hồn con thần khí và sự sống của Chúa.

Xin thấm nhập và chiếm lấy trọn vẹn con người con

đến nỗi cả đời sống con chỉ là sự tỏa sáng của Chúa.

Xin chiếu sáng qua con, để mọi người con tiếp xúc

cảm thấy sự hiện diện của Chúa trong con.

Khi họ nhìn lên, xin cho họ chỉ thấy Chúa,

chứ không thấy con nữa.

Xin ở lại với con, và con sẽ bắt đầu tỏa sáng như Chúa,

bừng tỏa như ánh sáng cho tha nhân.

Lạy Chúa Giêsu,

ánh sáng hoàn toàn đến từ Chúa, chứ không đến từ con.

Chính Chúa sẽ chiếu sáng trên họ qua con.

Con xin ca ngợi Chúa theo cách Chúa yêu thích nhất,

đó là chiếu sáng trên những người sống quanh con.

Xin cho con rao giảng về Chúa, không phải bằng lời,

nhưng bằng gương sáng của con,

bằng sức mạnh thu hút và dễ mến của những việc con làm,

do tình yêu đầy tràn của lòng con đối với Chúa. Amen.

Thánh John Henry Newman

 

Suy niệm (Lm. Nguyễn Vinh Sơn)

Câu chuyện

Mahatma Gandhi (1869 – 1948), nhà ái quốc và được tôn vinh là vị cha già dân tộc Ấn Độ, cũng là vị thánh của những người Ấn giáo, đã đấu tranh giành lại độc lập và tự do cho Ấn Độ bằng đường lối ôn hòa bất bạo động.

Một hôm người ta hỏi ông rằng: “Trước thảm họa nguyên tử, ngài sẽ làm gì    ?”

Ganhdi trả lời: “Tôi sẽ cầu nguyện”.

Gandhi là người rất yêu mến giáo huấn của Chúa Kitô, nhưng khi được hỏi thêm: “Vì sao ngài không theo đạo Công giáo    ?”

Ông trả lời: “Phúc Âm của Chúa thì rất tốt lành, nhưng người công giáo đã không sống Phúc Âm, nên không hơn gì chúng tôi”.

Sau đó ông còn nói thêm: “Nếu tôi đã hân hạnh gặp được một người nào là Kitô hữu chân thực, có lẽ tôi đã trở nên một người Kitô hữu ngay lập tức”.

Chính vì không sống đúng tư cách người môn đệ Chúa Kitô, người tín hữu đã làm che mờ Chúa Kitô nên Gandhi đã không đến với Đạo Kitô. Câu trả lời của Gandhi làm cho chúng ta cảnh tỉnh nhớ lại Lời Chúa nói trong Tin Mừng Mt 5,13-16: “Các con là muối ướp đời, là ánh sáng cho trần gian”.

Suy niệm

Người môn đệ trở nên như muối, là muối thì luôn có vị, muối không được lạt đi! Tác giả Cl. Tassin chú giải: “Các môn đệ đem hương vị cho đời và bảo đảm sự sống còn của thế gian trước mặt Thiên Chúa. Nhưng nếu họ không đảm đương được công việc này và đánh mất tinh thần các mối phúc, họ sẽ chẳng còn giá trị gì và Thiên Chúa sẽ từ bỏ họ” (Theo Tin Mừng thánh Mátthêu, Centurion, 1991, tr.62). Không chỉ trở nên vị mặn và hữu dụng như tính chất của muối, người môn đồ phải trở nên ánh sáng của nhân loại (x.Pl 2,15; so sánh với Ep 5,8-14), là tham dự vào sự sáng của Thiên Chúa mà Chúa Giêsu tuyên bố: “Tôi là ánh sáng của thế gian” (Lc 2,32; Ga 8,12; 12,35). Nguồn ánh sáng cứu độ như Thánh Vịnh đã tuyên xưng: “Đức Chúa là ánh sáng và là sự cứu chuộc của tôi” (Tv 27,1).

Ánh sáng cũng được sử dụng như là một biểu tượng trong Kinh Thánh, thường chỉ sự mặc khải cứu độ của Thiên Chúa. Ngôn sứ Isaia đã loan báo, người Tôi tớ Giavê được công bố là “ánh sáng muôn dân” (Is 49,6); và Israel cũng phải là ánh sáng cho dân ngoại (x. Is 42,6).

Giáo lý Công giáo số 1216 xác định: Trong phép Rửa tội, người được rửa tội nhận lấy Ngôi Lời là “ánh sáng đích thực soi sáng mọi người”, và “sau khi được soi sáng như thế”, họ trở nên “con của sự sáng” và chính bản thân họ là “ánh sáng”. Cho nên, thánh Phaolô mời gọi mỗi chúng ta: “Anh em phải chiếu sáng, như những vì sao trên vòm trời” (Pl 2,15). Chúng ta đều được mời gọi nên như muối và ánh sáng:

Phaolô cũng đồng hóa “muối” với “sự khôn ngoan” và ngài mời gọi chúng ta trong từng lời ăn tiếng nói phải mang vị mặn mà của muối: “Anh em hãy ăn ở khôn ngoan. Lời nói của anh em phải luôn luôn mặn mà dễ thương” (Cl 4,5-6).

Trong ý nghĩa đó, mỗi hành động của chúng ta cũng phải mang hương vị mặn mà của tình yêu đậm đà sẵn sàng chia sẻ với anh chị em mình. Mỗi khi dấn thân, tham gia gánh vác công việc trong xã hội, Giáo hội cũng phải chan chứa vị mặn muối của trách nhiệm công vụ vì anh chị em.

Khi mang lời mặn mà dễ thương, hành động thắm nồng tình yêu, tinh thần trách nhiệm, người Kitô hữu đã trở nên ánh sáng như Công đồng Vaticanô II đã chỉ rõ: “…Chính chứng tá của đời sống Kitô và những việc lành được làm với tinh thần siêu nhiên có sức lôi kéo người ta đến đức tin và đến với Thiên Chúa”, vì Chúa phán: “Sự sáng của các con phải soi trước mắt người ta, như vậy để họ xem thấy việc lành các con mà ngợi khen Cha các con ở trên trời” (Mt 5,16).

Tuy nhiên, khi chúng ta đi vào sống ở giữa và trong thế gian, dưới sự ảnh hưởng của các thế lực bóng tối, hương vị của muối trong chúng ta có thể trở nên nhạt, đèn của chúng ta có thể bị hết dầu nên lụi tàn ánh sáng. Để tìm lại được hương vị mặn và dầu cho đèn sáng, cần được ướp lại bằng vị mặn của Đức Giêsu, ngọn đèn cần được nuôi bằng dầu tình yêu của Ngài qua các bí tích đặc biệt là bí tích Hòa Giải: Được tha thứ, chữa lành và thêm sức mạnh và bí tích Thánh Thể để được kết hiệp với Chúa Giêsu bằng sức sống thánh và tình yêu dâng hiến.

Từng bước đi và sống trong dương gian xin cho chúng con luôn tâm niệm như Chúa mời gọi là muối là ánh sáng.

Ý lực sống

Chọn con là đèn
soi giữa thế trần.
Làm muối mặn mà
ướp đời dương gian…