
Anh em hãy canh thức để được sẵn sàng.
Bài đọc 1: Is 2, 1-5
Đức Chúa quy tụ muôn dân cho hưởng hoà bình vĩnh cửu trong Nước Thiên Chúa.
Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.
1 Đây là điều mà ông I-sai-a, con ông A-mốc, đã được thấy về Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
2Trong tương lai, núi Nhà Đức Chúa
đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao,
vươn mình trên hết mọi ngọn đồi.
Dân dân lũ lượt đưa nhau tới,
3nước nước dập dìu kéo nhau đi.
Rằng : “Đến đây, ta cùng lên núi Đức Chúa,
lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp,
để Người dạy ta biết lối của Người,
và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ.
Vì từ Xi-on, thánh luật ban xuống,
từ Giê-ru-sa-lem, lời Đức Chúa phán truyền.
4Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia
và phân xử cho muôn dân tộc.
Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày,
rèn giáo mác nên liềm nên hái.
Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau,
và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến.
5Hãy đến đây, nhà Gia-cóp hỡi,
ta cùng đi, nhờ ánh sáng Đức Chúa soi đường !”
Đáp ca: Tv 121, 1-2.4-5.6-7.8-9 (Đ : x. c.1)
Đ.Ta vui mừng trẩy lên đền thánh Chúa.
1Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi :
“Ta cùng trẩy lên đền thánh Chúa !”
Và giờ đây, Giê-ru-sa-lem hỡi, 2cửa nội thành, ta đã dừng chân.
Đ.Ta vui mừng trẩy lên đền thánh Chúa.
4Từng chi tộc, chi tộc của Chúa,
trẩy hội lên đền ở nơi đây,
để danh Chúa, họ cùng xưng tụng,
như lệnh đã truyền cho Ít-ra-en.5Cũng nơi đó, đặt ngai xét xử,
ngai vàng của vương triều Đa-vít.
Đ.Ta vui mừng trẩy lên đền thánh Chúa.
6Hãy nguyện chúc Giê-ru-sa-lem được thái bình,
rằng : “Chúc thân hữu của thành luôn thịnh đạt, 7tường trong luỹ ngoài hằng yên ổn,
lâu đài dinh thự mãi an ninh.”
Đ.Ta vui mừng trẩy lên đền thánh Chúa.
8Nghĩ tới anh em cùng là bạn hữu,
tôi nói rằng : “Chúc thành đô an lạc.”9Nghĩ tới đền thánh Chúa, Thiên Chúa chúng ta thờ,
tôi ước mong thành được hạnh phúc, hỡi thành đô.
Đ.Ta vui mừng trẩy lên đền thánh Chúa.
Bài đọc 2: Rm 13, 11-14
Ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.
11 Thưa anh em, anh em biết chúng ta đang sống trong thời nào. Đã đến lúc anh em phải thức dậy, vì hiện nay ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo. 12 Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. 13 Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày : không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. 14 Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng.
Tin mừng: Mt 24, 37-44
37 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Thời ông Nô-ê thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy.
38 Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu.
39 Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thuỷ ập tới cuốn đi hết thảy. Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy.
40 Bấy giờ, hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại; 41 hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại.
42 “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em sẽ đến.
43 Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông phải canh thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu.
44 Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.”
HUẤN DỤ CHÚA NHẬT 1 MÙA VỌNG NĂM A (27/11/2022) – SỢ CHÚA ĐI NGANG QUA MÀ TÔI KHÔNG NHẬN RA NGÀI
WHĐ (27/11/2022) – Trong buổi đọc kinh Truyền tin hôm Chúa nhât I mùa Vọng ngày 27/11/2022, Đức Phanxicô đã khích lễ các tín hữu ra khỏi sự uể oải và hãy tỉnh thức để nhận ra và đón tiếp Chúa đang ẩn mình nơi những hoàn cảnh bình thường nhất của cuộc sống chúng ta. Sau đây là toàn văn bài huấn dụ của Đức Thánh Cha:
ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ
Quảng trường Thánh Phêrô
Chúa nhật, ngày 27/11/2022
Anh chị em thân mến, chào anh chị em buổi sáng, chúc anh chị em một Chúa nhật đầy phúc lành!
Trong bài Tin mừng của Phụng vụ hôm nay, chúng ta nghe một lời hứa tuyệt đẹp mở đầu cho mùa Vọng: “Chúa của anh em sẽ đến” (x. Mt 24,42). Đây là nền tảng của niềm hy vọng chúng ta. Đây chính là điều nâng đỡ chúng ta, ngay cả trong những khoảnh khắc khó khăn và đau thương nhất của cuộc đời: Thiên Chúa đang đến, Thiên Chúa ở gần và Người đang đến. Chúng ta đừng bao giờ quên điều này! Chúa luôn đến, Chúa viếng thăm chúng ta, Chúa đến gần chúng ta, và Người sẽ trở lại vào cuối thời gian để đón nhận chúng ta trong vòng tay của Người. Trước lời này, chúng ta tự hỏi: Chúa sẽ đến thế nào? Và làm sao chúng ta nhận ra và đón tiếp Người? Chúng ta hãy dừng lại ngắn gọn trên hai câu hỏi ấy.
Câu hỏi thứ nhất: Chúa sẽ đến thế nào? Chúng ta rất thường nghe nói rằng Chúa hiện diện trên hành trình của chúng ta, rằng Người đồng hành và nói với chúng ta. Nhưng có lẽ vì chúng ta bị phân tâm bởi bao điều, nên chân lý này chỉ còn mang tính lý thuyết. Vâng, chúng ta biết rằng Chúa sẽ đến, nhưng chúng ta không sống theo chân lý ấy; hoặc chúng ta tưởng tượng Chúa sẽ đến theo cách thật ngoạn mục, có lẽ qua một dấu lạ phi thường nào đó.
Thế nhưng, Chúa Giêsu lại nói rằng sự việc sẽ diễn ra “như thời ông Nôê” (x. Mt 24,37). Và thời ông Nôê, người ta đã làm gì? Họ vẫn sống những sinh hoạt thường ngày, như mọi khi: “ăn uống, cưới vợ lấy chồng” (c. 38). Chúng ta hãy ghi nhớ điều này: Thiên Chúa ẩn mình trong đời sống chúng ta, Ngài luôn hiện diện – Ngài ẩn mình trong những hoàn cảnh bình thường và giản dị nhất của đời sống. Ngài không đến trong những biến cố phi thường, nhưng đến trong những điều bình thường mỗi ngày. Ngài tỏ mình ra trong những điều rất đỗi quen thuộc.
Ngài ở đó, trong công việc hằng ngày; trong một cuộc gặp gỡ tình cờ; trên khuôn mặt của người đang cần giúp đỡ; ngay cả trong những ngày có vẻ xám xịt và đơn điệu. Chính ngay trong đó, chúng ta gặp được Chúa, Đấng đang gọi chúng ta, đang nói với chúng ta, và đang gợi hứng cho hành động của chúng ta.
Tuy nhiên, còn một câu hỏi thứ hai: Làm sao chúng ta có thể nhận ra và đón tiếp Chúa? Chúng ta phải tỉnh thức, cảnh giác, đề phòng. Chúa Giêsu cảnh báo rằng: Chúng ta có nguy cơ không nhận ra cuộc viếng thăm của Ngài và không sẵn sàng khi Ngài đến. Tôi đã nhiều lần nhắc lại lời thánh Augustinô: “Tôi sợ Chúa, Đấng đi ngang qua” (Sermons 88, 14.13), nghĩa là tôi sợ rằng Ngài sẽ đi ngang qua mà tôi lại không nhận ra Ngài!
Thật vậy, Chúa Giêsu nói rằng người ta thời ông Nôê “ăn uống” và “họ đã không hay biết gì cho đến khi nạn hồng thủy ập đến cuốn đi hết thảy” (Mt 24,39). Chúng ta hãy chú ý điều này: họ chẳng nhận ra điều gì cả! Họ bị cuốn vào những việc riêng của họ, và không nhận ra rằng lụt hồng thủy sắp ập đến. Thật vậy, Chúa Giêsu còn nói rằng khi Người đến, “hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại” (c. 40). Theo nghĩa nào? Khác nhau ở điểm nào? Chỉ đơn giản thế này: một người thì tỉnh thức, biết chờ đợi, biết nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời thường; còn người kia thì sao lãng, sống ngày này qua ngày, không để tâm đến bất cứ điều gì.
Anh chị em thân mến, trong mùa Vọng này, chúng ta hãy để mình được đánh thức khỏi sự mê ngủ; hãy trỗi dậy khỏi tình trạng uể oải! Chúng ta hãy tự hỏi: Tôi có ý thức về điều mình đang sống không? Tôi có tỉnh táo không? Tôi có thức tỉnh không? Tôi có cố gắng nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong những hoàn cảnh thường ngày, hay tôi bị phân tâm và có phần bị những điều khác lấn át? Nếu hôm nay chúng ta không nhận ra Người đang đến, thì đến ngày cuối cùng, khi Người đến, chúng ta cũng sẽ không sẵn sàng.
Vì thế, thưa anh chị em, chúng ta hãy tỉnh thức! Chờ đợi Chúa đến, chờ đợi Chúa đến gần với chúng ta – vì Người ở đó – nhưng hãy chờ đợi trong tỉnh táo. Và xin Đức Trinh Nữ Rất Thánh, Người Nữ của sự chờ đợi, Đấng đã biết nhận ra bước đi của Thiên Chúa trong đời sống âm thầm và khiêm hạ tại Nazarét, và đã đón tiếp Ngài trong cung lòng mình, giúp chúng ta trên hành trình biết tỉnh táo chờ đợi Chúa, Đấng ở giữa chúng ta và đang đi ngang qua.
Giáo lý cho bài giảng Chúa nhật 1 mùa Vọng năm A
WHĐ (25/11/2025) – Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh thánh của lễ Chúa nhật 1 mùa Vọng năm A theo sự hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích.
|
Số 668-677, 769: Cuộc thử thách cuối cùng và sự trở lại của Đức Kitô trong vinh quang Số 451, 671, 1130, 1403, 2817: “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” Số 2729-2733: Tâm hồn khiêm tốn và tỉnh thức Bài Ðọc I: Is 2, 1-5 Bài Ðọc II: Rm 13, 11-14 Phúa Âm: Mt 24, 37-44 |
Số 668-677, 769: Cuộc thử thách cuối cùng và sự trở lại của Đức Kitô trong vinh quang
Số 668. “Đức Kitô đã chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết” (Rm 14,9). Việc Đức Kitô lên trời cho thấy nhân tính của Người cũng được tham dự vào quyền năng và uy quyền của chính Thiên Chúa. Chúa Giêsu Kitô là Chúa: Người nắm mọi quyền bính trên trời dưới đất. Người “vượt trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được” vì Chúa Cha “đã đặt tất cả dưới chân Người” (Ep 1,20-22). Đức Kitô là Chúa của tất cả vũ trụ[1] và của lịch sử. Nơi Người, lịch sử của con người, kể cả toàn bộ công trình tạo dựng, tìm gặp được “nơi quy tụ” của mình[2], tột đỉnh siêu việt của mình.
Số 669. Là Chúa, Đức Kitô cũng là Đầu Hội Thánh, Thân Thể của Người[3]. Được đưa lên trời và được tôn vinh sau khi chu toàn sứ vụ, Đức Kitô vẫn hiện diện nơi trần thế trong Hội Thánh của Người. Công trình cứu chuộc là nguồn mạch của quyền bính mà Đức Kitô thực thi trong Hội Thánh bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần[4]. “Nước của Đức Kitô đã hiện diện một cách mầu nhiệm”[5] trong Hội Thánh, là “hạt giống và điểm khởi đầu của Nước Trời nơi trần thế”[6].
Số 670. Khởi từ cuộc Thăng Thiên, kế hoạch của Thiên Chúa bước vào giai đoạn hoàn thành. Chúng ta đang sống trong “giờ cuối cùng” (1 Ga 2,18)[7]. “Quả vậy, những thời đại cuối cùng đã đến với chúng ta và sự canh tân trần gian đã được thiết lập một cách không thể đảo ngược, và trong thời đại này sự canh tân đó đã được tiền dự một cách hiện thực nào đó: thật vậy, Hội Thánh nơi trần gian được ghi dấu bằng sự thánh thiện thật, tuy còn bất toàn”[8]. Nước Đức Kitô đã biểu lộ sự hiện diện của mình nhờ những dấu chỉ kỳ diệu[9] đi kèm theo việc loan báo Nước đó nhờ Hội Thánh[10].
… cho tới khi mọi sự quy phục Người
Số 671. Tuy nhiên, Nước Đức Kitô, đang hiện diện trong Hội Thánh của Người, chưa phải là tuyệt đối với “quyền năng và vinh quang” (Lc 21,27)[11] do việc Vua ngự đến trần gian. Nước này còn bị các thế lực sự dữ tấn công[12], mặc dù chúng đã bị đánh bại tận gốc rễ do cuộc Vượt Qua của Đức Kitô. Cho tới khi mọi sự quy phục Người[13], “cho tới khi có trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị, Hội Thánh lữ hành, trong các bí tích và các định chế của mình, vốn là những điều thuộc thời đại nay, vẫn mang hình dáng của thời đại chóng qua này và chính Hội Thánh đang sống giữa các thụ tạo còn đang rên siết và quằn quại như sắp sinh nở và mong đợi cuộc tỏ hiện của các con cái Thiên Chúa”[14]. Vì vậy, các Kitô hữu cầu nguyện, nhất là trong bí tích Thánh Thể[15], để Đức Kitô mau lại đến[16], bằng cách thưa với Người: “Lạy Chúa, xin ngự đến !” (Kh 22,20)[17].
Số 672. Đức Kitô, trước cuộc Thăng Thiên của Người, đã khẳng định rằng chưa đến giờ Người thiết lập Nước của Đấng Messia một cách vinh hiển mà Israel mong đợi[18], Nước đó phải mang lại cho mọi người, theo lời các tiên tri[19], một trật tự vĩnh viễn của công lý, của tình yêu, và của hoà bình. Thời gian hiện tại, theo Chúa, là thời gian của Thần Khí và của việc làm chứng[20], nhưng cũng là thời gian được ghi dấu bằng nỗi khó khăn hiện tại[21] và bằng sự thử thách của sự dữ[22], thời gian này không buông tha Hội Thánh[23], và khởi đầu cuộc chiến của những ngày sau cùng[24]. Đây là thời gian của sự mong đợi và tỉnh thức[25].
Việc Ngự đến vinh hiển của Đức Kitô, niềm hy vọng của Israel
Số 673. Sau cuộc Thăng Thiên, việc Ngự đến trong vinh quang của Đức Kitô luôn gần kề[26], mặc dù chúng ta “không biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt” (Cv 1,7)[27]. Biến cố cánh chung này có thể xảy ra bất cứ lúc nào[28], mặc dù chính biến cố đó cũng như cuộc thử thách cuối cùng phải xảy ra trước biến cố đó, còn được “trì hoãn”[29].
Số 674. Việc Ngự đến của Đấng Messia vinh hiển vào bất cứ lúc nào trong lịch sử tùy thuộc[30] vào việc Người được nhận biết bởi “toàn thể Israel”[31] mà một phần dân ấy còn cứng lòng[32] “không tin” (Rm 11,20) vào Chúa Giêsu. Thánh Phêrô nói với người Do Thái ở Giêrusalem sau lễ Ngũ Tuần: “Anh em hãy sám hối và trở lại cùng Thiên Chúa, để Ngài xóa bỏ tội lỗi cho anh em. Như vậy, thời kỳ an lạc mà Chúa ban cho anh em sẽ đến, khi Ngài sai Đấng Kitô Ngài đã danh cho anh em, là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu còn phải được giữ lại trên trời, cho đến thời phục hồi vạn vật, thời mà Thiên Chúa đã dùng miệng các vị thánh ngôn sứ của Ngài mà loan báo tự ngàn xưa” (Cv 3,19-21). Thánh Phaolô cũng nhắc lại điều đó: “Thật vậy, nếu vì họ bị gạt ra một bên mà thế giới được hòa giải với Thiên Chúa, thì việc họ được thâu nhận lại là gì, nếu không phải là từ cõi chết bước vào cõi sống?” (Rm 11,15). Việc gia nhập của đông đủ người Do Thái[33] vào ơn cứu độ của Đấng Messia, sau việc gia nhập đông đủ của các dân ngoại[34], sẽ làm cho dân Chúa đạt “tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô” (Ep 4,13), trong đó, “Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28).
Cuộc thử thách cuối cùng của Hội Thánh
Số 675. Trước cuộc Ngự đến của Đức Kitô, Hội Thánh phải trải qua một cuộc thử thách cuối cùng, làm lung lạc đức tin của nhiều tín hữu[35]. Cuộc bách hại, luôn đi theo Hội Thánh trên đường lữ thứ trần gian[36], sẽ làm lộ rõ “mầu nhiệm sự dữ” dưới hình thức một sự đánh lừa về tôn giáo, có vẻ như mang đến cho người ta một giải pháp về các vấn đề của họ với giá phải trả là sự chối bỏ chân lý. Sự đánh lừa về tôn giáo ở mức cao nhất là của tên Phản Kitô, nghĩa là, của một chủ nghĩa Messia giả hiệu, trong đó con người tự tôn vinh chính mình thay vì tôn vinh Thiên Chúa và Đấng Messia của Ngài đã đến trong xác phàm[37].
Số 676. Sự đánh lừa của tên Phản Kitô đã được phác hoạ trên trần gian mỗi khi người ta cho rằng mình thực hiện được trong lịch sử niềm hy vọng về Đấng Messia, một niềm hy vọng vốn chỉ có thể được hoàn thành vượt quá giới hạn lịch sử, nhờ cuộc phán xét cánh chung: Hội Thánh đã bác bỏ sự giả mạo này về Vương quốc tương lai, và cả dưới một hình thức giảm nhẹ của sự giả mạo đó, có tên là thuyết ngàn năm (millenarismus)[38], nhất là dưới một hình thức chính trị của một chủ thuyết Messia đã bị tục hoá (messianismus saecularizatus), “đồi bại tự bản chất”[39].
Số 677. Hội Thánh chỉ tiến vào vinh quang Nước Trời sau cuộc Vượt Qua cuối cùng này, trong đó Hội Thánh đi theo Chúa của mình trong sự chết và sự sống lại của Người[40]. Vì vậy Nước Trời sẽ không được thực hiện bằng một chiến thắng của Hội Thánh trong lịch sử[41], theo một đà tiến từ dưới đi lên nào đó, nhưng bằng sự chiến thắng của Thiên Chúa trên cuộc tấn công cuối cùng của sự dữ[42], sự chiến thắng đó làm cho Tân nương của Ngài từ trời xuống[43]. Chiến thắng của Thiên Chúa trên sự nổi loạn của sự dữ sẽ mang hình thức cuộc Phán Xét cuối cùng[44], sau cuộc đảo lộn cuối cùng khắp vũ trụ của trần gian đang qua đi[45].
Hội Thánh – được hoàn tất trong vinh quang
Số 769. “Hội Thánh … sẽ chỉ được hoàn tất trong vinh quang thiên quốc”[46], trong cuộc Ngự đến vinh hiển của Đức Kitô. Cho đến ngày đó, “Hội Thánh vẫn tiến bước trên đường lữ thứ giữa những cuộc bách hại của thế gian và những ơn an ủi của Thiên Chúa”[47]. Nơi trần thế, Hội Thánh biết mình đang ở chốn lưu đày, đang trên đường lữ thứ xa cách Chúa[48], Hội Thánh khao khát cuộc ngự đến trọn vẹn của Nước Thiên Chúa, khao khát “giờ sẽ được kết hợp cùng Vua của mình trong vinh quang”[49]. Sự hoàn tất của Hội Thánh, và qua đó, sự hoàn tất của trần gian trong vinh quang sẽ chỉ xảy ra sau nhiều thử thách lớn lao. Chỉ khi đó “mọi người công chính từ ông Ađam, ‘từ ông Abel người công chính cho đến người được tuyển chọn cuối cùng’ sẽ được quy tụ trong Hội Thánh phổ quát bên cạnh Chúa Cha”[50].
Số 451, 671, 1130, 1403, 2817: “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến”
Số 451. Kinh nguyện Kitô giáo được ghi dấu bằng tước hiệu “Chúa”, dù là lời mời gọi cầu nguyện “Chúa ở cùng anh chị em”, dù là câu kết thúc lời nguyện: “Nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con”, hay cả trong tiếng kêu đầy tin tưởng và hy vọng “Maran atha” (“Chúa đến!”) hoặc “Marana tha” (“Lạy Chúa, xin ngự đến!”) (l Cr l6,22). “Amen. Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22,20).
… cho tới khi mọi sự quy phục Người
Số 671. Tuy nhiên, Nước Đức Kitô, đang hiện diện trong Hội Thánh của Người, chưa phải là tuyệt đối với “quyền năng và vinh quang” (Lc 21,27)[51] do việc Vua ngự đến trần gian. Nước này còn bị các thế lực sự dữ tấn công[52], mặc dù chúng đã bị đánh bại tận gốc rễ do cuộc Vượt Qua của Đức Kitô. Cho tới khi mọi sự quy phục Người[53], “cho tới khi có trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị, Hội Thánh lữ hành, trong các bí tích và các định chế của mình, vốn là những điều thuộc thời đại nay, vẫn mang hình dáng của thời đại chóng qua này và chính Hội Thánh đang sống giữa các thụ tạo còn đang rên siết và quằn quại như sắp sinh nở và mong đợi cuộc tỏ hiện của các con cái Thiên Chúa”[54]. Vì vậy, các Kitô hữu cầu nguyện, nhất là trong bí tích Thánh Thể[55], để Đức Kitô mau lại đến[56], bằng cách thưa với Người: “Lạy Chúa, xin ngự đến !” (Kh 22,20)[57].
Các bí tích của đời sống vĩnh cửu
Số 1130. Hội Thánh cử hành mầu nhiệm của Chúa mình “cho tới khi Chúa đến” (1 Cr 11,26), lúc “Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28). Ngay từ thời các Tông Đồ, phụng vụ đã được hướng đến cùng đích của mình qua lời rên xiết của Thần Khí trong Hội Thánh: “Marana tha! – Lạy Chúa, xin ngự đến!” (1 Cr 16,22). Như thế, Phụng vụ chia sẻ nỗi khát khao của Chúa Giêsu: “Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em… cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa” (Lc 22, 15.16). Trong các bí tích của Đức Kitô, Hội Thánh đã nhận được bảo chứng gia tài của mình, đã được dự phần vào đời sống vĩnh cửu, đang khi “trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Kitô Giêsu là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng Cứu Độ chúng ta, xuất hiện vinh quang” (Tt 2,13). “Thần Khí và Tân Nương nói: Xin Ngài ngự đến… Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22, 17.20).
Thánh Tôma tóm lược các chiều kích khác nhau của dấu chỉ bí tích như sau: “Bí tích là dấu chỉ nhắc nhớ điều đã xẩy ra trước nó, tức là cuộc khổ nạn của Đức Kitô; là dấu chỉ cho thấy điều được thực hiện nơi chúng ta nhờ cuộc khổ nạn của Đức Kitô, tức là ân sủng; là dấu chỉ tiên báo, tức là báo trước vinh quang tương lai”[58].
Số 1403. Trong bữa Tiệc ly, chính Chúa hướng các môn đệ Người đến sự hoàn tất lễ Vượt Qua trong Nước Thiên Chúa: “Thầy bảo cho anh em biết: từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy” (Mt 26,29)[59]. Mỗi lần cử hành bí tích Thánh Thể, Hội Thánh nhớ lại lời hứa này và hướng trông “Đấng đang đến” (Kh 1,4). Trong kinh nguyện, Hội Thánh kêu cầu Người ngự đến: “Marana tha” (1 Cr 16,22), “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22,20), “Ước gì ân sủng của Ngài đến và trần gian này qua đi”[60].
Số 2817. Lời cầu xin này là lời “Marana tha”, là tiếng kêu cầu của Thần Khí và Hiền Thê: “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến”:
“Giả như lời cầu xin này không đòi buộc phải van xin Nước Chúa mau đến đi nữa, thì chúng ta cũng bị thúc giục kêu gào điều đó vì muốn ôm lấy niềm hy vọng của chúng ta. Linh hồn các vị tử đạo nằm dưới bàn thờ lớn tiếng kêu lên Chúa: ‘Lạy Chúa, cho đến bao giờ Ngài còn trì hoãn, không xét xử và không bắt những người sống trên mặt đất phải đền nợ máu chúng con?’ (Kh 6,10). Chắc chắn các ngài sẽ được xét xử công bằng vào ngày tận thế. Lạy Chúa, nguyện Nước Chúa mau đến”[61].
Số 2729-2733: Tâm hồn khiêm tốn và tỉnh thức
Số 2729. Khó khăn thường xuyên khi chúng ta cầu nguyện là sự chia trí. Có thể chia trí về các lời đọc và ý nghĩa của chúng, trong khẩu nguyện; sâu xa hơn, về Đấng chúng ta đang thưa chuyện, trong khẩu nguyện (cầu nguyện trong phụng vụ hay riêng tư), trong suy niệm và cầu nguyện chiêm niệm. Bận tâm với việc xua đuổi những sự chia trí này là đã mắc bẫy của chúng, trong khi chúng ta chỉ cần trở về với trái tim mình là đủ: sự chia trí bộc lộ cho thấy điều mình đang quyến luyến; khiêm tốn ý thức được điều đó trước mặt Chúa, sẽ nhắc nhở chúng ta phải ưu tiên yêu mến Ngài, kiên quyết dâng tâm hồn cho Ngài để xin Ngài thanh tẩy. Cuộc chiến đấu là ở chỗ đó: chúng ta chọn Chúa để phục vụ Ngài[62].
Số 2730. Về mặt tích cực, cuộc chiến đấu chống lại “cái tôi” thích chiếm hữu và thống trị của chúng ta chính là sự tỉnh thức, tức là sự tiết độ của tâm hồn. Khi kêu gọi sự tỉnh thức, Chúa Giêsu luôn quy chiếu về việc Người đến vào ngày cuối cùng và từng ngày, vào “Hôm nay”. Chàng Rể đến vào nửa đêm, nên ta không được để cho ánh sáng đức tin tàn lụi: “Nghĩ về Ngài lòng con tự nhủ: hãy tìm kiếm Thánh Nhan” (Tv 27,8).
Số 2731. Một khó khăn khác, đặc biệt đối với những người thành tâm muốn cầu nguyện, là sự khô khan. Nó là một phần của việc cầu nguyện, khi tâm hồn bị tước đoạt, không còn hứng thú đối với những ý tưởng, những hoài niệm và những tâm tình, kể cả về mặt thiêng liêng. Đây chính là lúc phải có đức tin tinh tuyền, một đức tin trung thành ở lại với Chúa Giêsu “trong hấp hối và trong huyệt mộ”. “Hạt lúa gieo vào lòng đất, … nếu chết đi nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Nếu sự khô khan là do thiếu gốc rễ, bởi vì lời rơi trên sỏi đá, thì cuộc chiến đấu liên quan đến việc hối cải[63].
Trước những cám dỗ trong việc cầu nguyện
Số 2732. Cơn cám dỗ thường gặp nhất, kín đáo nhất, là chúng ta thiếu đức tin. Đây không phải là việc tuyên bố rõ ràng không tin Chúa, cho bằng một chọn lựa ưu tiên trong thực tế. Khi chúng ta khởi sự cầu nguyện, hàng ngàn công việc và lo toan, được coi là cấp bách, xuất hiện như những điều đòi được ưu tiên: một lần nữa, đây là lúc chúng ta thấy rõ lòng mình và tình cảm ưu tiên của nó. Có khi chúng ta quay về với Chúa như chỗ cậy dựa cuối cùng, nhưng liệu chúng ta có thật sự tin điều đó không? Có khi chúng ta nhận Chúa làm đồng minh, nhưng lòng vẫn còn tự cao tự đại. Trong mọi trường hợp, sự thiếu đức tin của chúng ta cho thấy rằng chúng ta chưa có một tâm hồn khiêm tốn: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).
Số 2733. Một cám dỗ khác do sự tự cao tự đại mở lối, là sự nguội lạnh. Các linh phụ coi đây là một hình thức suy nhược tinh thần vì nới lỏng khổ chế, giảm thiểu canh thức, chểnh mảng tâm hồn. “Tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26,41). Càng trèo cao càng té nặng. Sự nản chí, phiền muộn, là mặt trái của sự tự cao tự đại. Còn người khiêm tốn không lạ gì về sự khốn khổ của mình, chính điều đó khiến họ càng phó thác hơn, và kiên trì đứng vững.
Bài giảng Đức Thánh Cha – Chúa nhật 1 mùa Vọng năm A
Đây là những bài giảng và huấn dụ của Đức Thánh Cha trong các thánh lễ và các buổi đọc kinh Truyền tin với các tín hữu vào Chúa nhật 1 mùa Vọng năm A.
Suy niệm (Lm Ignatio Hồ Văn Xuân)
CHIA SẺ LỜI CHÚA
1. Bài đọc 1 : Is 2,1-5
1. Chúng ta biết các tác giả Kinh Thánh rất thích dùng các hình ảnh ! Đây là hai hình ảnh tuyệt đẹp trong lời rao giảng của ngôn sứ I-sai-a : trước hết là hình ảnh một đám đông khổng lồ đang di chuyển ; tiếp đến là hình ảnh các đạo quân trên thế giới quyết định biến các thứ vũ khí sát thương thành các dụng cụ trong nông nghiệp. Chúng ta cùng nhau suy niệm về hai hình ảnh này.
Đám đông khổng lồ đang di chuyển, họ đang leo lên núi : ở cuối con đường là Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ. Chính ngôn sứ I-sai-a đang ở tại Giê-ru-sa-lem và nhìn thấy đám đông này, một biển người đang tiến tới. Chắc chắn đó là một hình ảnh báo trước. Ta có thể nghĩ rằng đó là hình ảnh đám đông khổng lồ những người Ít-ra-en đổ về Giê-ru-sa-lem hành hương vào những ngày đại lễ, chẳng hạn mỗi năm, dịp lễ Lều vào mùa thu. Người ta sống trong các lều bạt, kể cả trong thành phố, trong tám ngày, để nhớ lại ngày xưa tổ tiên họ đã sống trong lều bạt nơi sa mạc Xi-nai thời Xuất hành. Vào dịp này, Giê-ru-sa-lem đầy người, người ta đến từ khắp nơi, kể cả những người ở nước ngoài. Sách Đệ nhị luật, khi nói về lễ này cho biết : “Anh em sẽ liên hoan mừng lễ, cùng với con trai con gái, tôi tớ nam nữ, với thầy Lê-vi, ngoại kiều và cô nhi quả phụ ở trong các thành của anh em. Trong vòng bảy ngày, anh em sẽ mở lễ kính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, tại nơi Đức Chúa chọn, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em chúc phúc cho anh em là ban cho anh em mọi hoa lợi và cho mọi công việc tay anh em làm được kết quả ; anh em chỉ có việc hân hoan” (Đnl 16,14-15).
2. Trước cảnh tượng này, ngôn sứ I-sai-a linh cảm cuộc tập họp đông đảo hằng năm tràn ngập niềm vui và lòng nhiệt thành, báo trước một sự kiện khác : lúc bấy giờ, nhờ Thần Khí soi sáng, ngôn sứ có thể mạnh dạn công bố : Vâng, một ngày nào đó, cuộc hành hương cho đến lúc ấy chỉ dành riêng cho dân Ít-ra-en, sẽ tập họp tất cả mọi dân tộc, hết thảy mọi quốc gia. Đền thờ không chỉ dành riêng cho các chi tộc Ít-ra-en : từ nay về sau, đó sẽ là nơi tập trung tất cả mọi quốc gia, bởi vì cuối cùng toàn thể nhân loại sẽ nghe Tin Mừng tình yêu của Thiên Chúa.
Để cho thấy ở điểm nào mà số phận của Ít-ra-en và các quốc gia hoà lẫn vào nhau, bản văn không bao giờ nói đến Ít-ra-en mà không đề cập đến các quốc gia và ngược lại. Bản văn bắt đầu bằng Ít-ra-en : “Đây là điều mà ông I-sai-a, con ông A-mốc, đã được thấy về Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.” “Trong tương lai, núi Nhà Đức Chúa đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao.” Chúng ta cần lưu ý đây là cách nói mang tính biểu tượng : ngọn đồi của Đền Thờ không phải là nơi cao nhất của Giê-ru-sa-lem và chắc chắn là rất khiêm tốn so với những dãy núi khác trên hành tinh của chúng ta, ví dụ như dãy núi Himalaya chẳng hạn ; nhưng đây đề cập đến một sự nâng cao khác.
Tiếp theo bản văn nhắc đến “các quốc gia”, nghĩa là tất cả các dân tộc : “Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi.” Họ bảo : “Đến đây, ta cùng lên núi Đức Chúa, lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp, để Người dạy ta biết lối của Người, và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ.” Câu cuối cùng là một công thức kiểu mẫu của Giao ước : như vậy sự kiện trên báo cho biết các dân tộc khác cũng gia nhập Giao ước mà cho tới lúc đó chỉ dành riêng cho Ít-ra-en. Bản văn tiếp tục : “Vì từ Xi-on, thánh luật ban xuống, từ Giê-ru-sa-lem, lời Đức Chúa phán truyền.” Điều đó muốn nói việc Chúa chọn Ít-ra-en làm dân riêng hàm chứa trách nhiệm của họ trong việc cộng tác với Thiên Chúa để đưa các dân tộc khác bước vào Giao ước. Chỉ trong một vài hàng, ta nhận thấy rõ hai chiều kích của Giao ước giữa Thiên Chúa với nhân loại : một đàng Thiên Chúa chọn dân Ít-ra-en làm dân riêng của Người, nhưng đồng thời kế hoạch của Thiên Chúa liên quan đến toàn thể nhân loại, đó là kế hoạch phổ quát. Chúa muốn cứu độ hết thảy mọi người. Ngôn sứ I-sai-a cho biết lúc đó thì chỉ có dân Ít-ra-en nhận biết Thiên Chúa thật, nhưng sẽ đến ngày toàn thể nhân loại sẽ nhận biết Thiên Chúa là Tình Yêu. Ta cần lưu ý rằng việc đông đảo khách hành hương vào Đền Thờ Giê-ru-sa-lem không phải để tế lễ như thường thấy, nhưng các quốc gia tập họp trong Đền Thờ để lắng nghe Lời của Chúa và học sống theo luật của Người. Chúng ta biết rằng lòng trung thành của chúng ta đối với Chúa thể hiện trong cuộc sống thường ngày, nhưng dường như ở đây ngôn sứ I-sai-a nói rất mạnh : “Dân dân lũ lượt đưa nhau tới” và họ nói : “Đến đây, ta cùng lên núi Đức Chúa, lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp, để Người dạy ta biết đường lối của Người.”
Hình ảnh thứ hai phát xuất từ hình ảnh thứ nhất : Nếu tất cả các nước đều nghe lời Thiên Chúa theo đúng nghĩa của từ “nghe” trong Kinh Thánh, nghĩa là họ quyết định sống theo lời Chúa dạy, thì họ tham dự vào kế hoạch của Thiên Chúa là một kế hoạch hoà bình. Họ chọn Chúa như vị thẩm phán, như trọng tài, theo lời ngôn sứ I-sai-a : “Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia, và phân xử cho muôn dân tộc.” Trong thực tế, nếu chính Thiên Chúa làm trọng tài, thì hoà bình trên thế giới mới bền vững được, vì người ta không cần phải chuẩn bị chiến tranh nữa, mà biến vũ khí sát thương thành những dụng cụ nông nghiệp : “Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến” như ngôn sứ I-sai-a đã nói.
Câu cuối cùng kết thúc bản văn là một lời mời gọi rất cụ thể : “Hãy đến đây, nhà Gia-cóp hỡi, ta cùng đi, nhờ ánh sáng Đức Chúa soi đường !”, hiểu ngầm là hiện giờ, dân Ít-ra-en đã hoàn thành ơn gọi của mình bằng hai việc làm : “lên Đền Thờ của Đức Chúa”, một đàng là cử hành Giao ước, đàng khác, “cùng đi, nhờ ánh sáng Đức Chúa soi đường”, nghĩa là sống theo Lề Luật của Giao ước.
2. Đáp ca : Tv 121
Thánh vịnh 121 là một trong những thánh vịnh được gọi là “các thánh vịnh lên đền”. Các thánh vịnh này được soạn đặc biệt cho các cuộc hành hương, và được hát lên khi đoàn hành hương tới các cửa Thành Thánh, thành Giê-ru-sa-lem. Lời cầu chúc cho Giê-ru-sa-lem được thái bình, hạnh phúc còn lâu mới trở thành hiện thực ! Chúng ta biết lịch sử đầy biến động của thành phố này : vào khoảng năm 1000 trước Công nguyên, thành phố này chỉ là một làng quê nhỏ bé tên là Giê-bu ; chính vua Đa-vít đã chọn nơi đó làm thủ đô của vương triều ông. Chúa nhật tuần trước (Chúa nhật Đức Giê-su Ki-tô, Vua vũ trụ, năm C), ta thấy thủ đô đầu tiên của Đa-vít là Khép-rôn và ông chỉ là vua của chi tộc Giu-đa mà thôi ; nhưng vào một ngày đẹp trời, mười một chi tộc còn lại lập Giao ước với Đa-vít và xức dầu tấn phong ông làm vua toàn thể Ít-ra-en.
Đa-vít rất khôn ngoan chọn một thủ đô mới mà không một chi tộc nào có thể phàn nàn được. Thế là Giê-bu trở thành Giê-ru-sa-lem : từ đó về sau người ta gọi Giê-ru-sa-lem là “thành của Đa-vít” (2 Sm 6,12). Ông đã rước Hòm Bia Giao Ước về Giê-ru-sa-lem mà dưới mắt của mọi người là Thành Thánh, vì là nơi Thiên Chúa đã chọn để “cắm lều của Người”.
Gọi Giê-ru-sa-lem là Thành Thánh vì thuộc về Thiên Chúa.
Chúng ta biết Đền Thờ Giê-ru-sa-lem trở thành trung tâm đời sống tâm linh của toàn dân Ít-ra-en : mỗi năm 3 lần, người Ít-ra-en đi hành hương tại Đền Thờ này, nhất là ngày lễ Lều, vào mùa thu. Nhưng Đền Thờ này bị quân của vua Na-bu-cô-đô-nô-xo tàn phá vào năm 587 trước Công nguyên. Sau đó là cuộc lưu đày 50 năm ở Ba-by-lon, đến năm 538 dân Ít-ra-en thoát kiếp lưu đày nhờ vua Ky-rô, và Giê-ru-sa-lem được tái thiết, cho nên khách hành hương hát lên : “Và giờ đây, Giê-ru-sa-lem hỡi, cửa nội thành, ta đã dừng chân. Giê-ru-sa-lem khác nào đô thị, được xây nên một khối vẹn toàn.” Nhất là Đền Thờ của vua Sa-lô-môn xây đã được xây dựng lại, và Giê-ru-sa-lem lại trở thành trung tâm tôn giáo ; vẻ uy nghi, nét thánh thiện có được vì Đền Thờ là dấu chỉ hữu hình về sự hiện diện của Thiên Chúa vô hình. Đền Thờ Giê-ru-sa-lem còn gặp nhiều tai ương nữa : bị biến thành Đền Thờ các vị thần ngoại giáo, rồi năm 70 bị quân Rô-ma thiêu huỷ.
3. Bài đọc 2 : Rm 13,11-14
“Hiện nay, ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo.” Lời của thánh Phao-lô luôn luôn đúng, vì đó là một tín điều đức tin của chúng ta. Chúng ta biết kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa hôm nay tiến triển hơn hôm qua. Kế hoạch đó đang hoàn tất, kế hoạch đó tuy tiến triển chậm nhưng mà chắc. Mà kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa cần đến chúng ta. Vì thế, đây không phải là lúc ngủ. Chúng ta may mắn biết kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, vì thế chúng ta không được làm cho kế hoạch đó bị chậm trễ. Ta nhớ đến thư thứ hai của thánh Phê-rô : “Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa, như có kẻ cho là Người chậm trễ. Kỳ thực, Người kiên nhẫn đối với anh em, vì Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải” (2 Pr 3,9). Có nghĩa là sự thụ động của chúng ta, sự ngủ mê của chúng ta sẽ làm chậm trễ kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Thánh Phao-lô nhắc nhở chúng ta : “Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sống để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như những người đang sống giữa ban ngày : không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, không cãi cọ ghen tương.” Đó là những việc làm đen tối thánh Phao-lô cũng đề cập đến trong thư gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca : “Nhưng chúng ta, chúng ta thuộc về ban ngày, nên hãy sống tiết độ, mặc áo giáp là đức tin và đức mến, đội mũ chiến là niềm hy vọng ơn cứu độ.” Như vậy, ba nhân đức tin, cậy, mến là sức mạnh tinh thần của người tín hữu để thắng tối tăm.
2. Cuối cùng là hãy “mặc lấy Chúa Ki-tô”. Chúng ta nhớ lại lời thánh Phao-lô trong thư gửi tín hữu Ga-lát : “Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô” (Gl 3,27). Khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, người tín hữu thuộc về Đức Ki-tô, hoàn toàn kết hợp với Người, do đã được biến đổi theo hình ảnh Người. “Mặc lấy Đức Ki-tô” có tầm quan trọng trong đời sống cá nhân cũng như trong sinh hoạt cộng đồng. Bởi đã mặc lấy Đức Ki-tô, nên chúng ta phải sống thế nào để mỗi người chúng ta có thể mạnh dạn nói rằng : “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Ga 2,20).
4. Bài Tin Mừng : Mt 24,37-44
Một điều chắc chắn là bản văn hôm nay được viết ra không nhằm làm cho chúng ta sợ hãi, nhưng để trấn an chúng ta, giúp ta hiểu rõ hơn lối văn khải huyền : có nghĩa là “biểu lộ điều đã được che giấu”, biểu lộ một thực tế mà chúng ta đều quan tâm, đó là việc Đức Ki-tô ngự đến. “Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : ‘Thời ông Nô-ê thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy … Anh em không biết ngày nào Chúa của anh em sẽ đến. Chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.’” Trọng tâm của đoạn Tin Mừng hôm nay là việc báo tin Đức Giê-su Ki-tô “sẽ ngự đến”. Ta phải hiểu thế nào về việc so sánh với trận lụt thời ông Nô-ê ; việc hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại ; hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại !
Chúng ta cần lưu ý rằng : Khi Đức Giê-su nói bất cứ điều gì là luôn nhằm mặc khải ý định yêu thương của Thiên Chúa chứ không phải làm cho chúng ta sợ hãi. Vì thế, đây là một lời khuyên Chúa muốn gửi đến tất cả chúng ta : Vào thời ông Nô-ê, không ai nghi ngờ gì cả ; điều chúng ta cần quan tâm là ông Nô-ê được kể là người công chính và ông được cứu thoát ; tất cả những ai là công chính đều sẽ được cứu thoát.
2. Bây giờ, chúng ta trở lại chủ đề quen thuộc, chủ đề phán xét (chọn lựa) giữa những người tốt và kẻ xấu, giữa hạt lúa tốt và cỏ lùng : “hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại ; hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại” có nghĩa là người này tốt còn người kia xấu. Nói về người tốt và kẻ xấu như là hai loại người khác nhau của nhân loại, đó là một cách nói về cái tốt và cái xấu, về hạt lúa tốt và cỏ lùng, vốn có nơi mỗi người chúng ta : vì thế ta cần phải làm thế nào để cái tốt luôn tồn tại, còn cái xấu phải bị loại trừ.
Một vấn đề khác, chính Chúa Giê-su tự xưng là Con Người.
Từ Con Người có gốc tiếng Híp-ri, có nghĩa là một phần tử thuộc nhân loại, một con người.
3. CON NGƯỜI, kiểu nói của Kinh Thánh, chỉ Chúa Giê-su Ki-tô vừa mang nhân tính và thần tính, được các ngôn sứ tiên báo.
Trong Cựu Ước, ngôn sứ Ê-dê-ki-en được Chúa gọi là con người (Ed 2,1-3 ; Đn 8,17), đặc biệt ngôn sứ Đa-ni-en trong một thị kiến đã thấy một nhân vật như một Con Người, đang ngự giá mây trời mà đến, vị này được trao mọi quyền hành để xét xử các dân tộc (Đn 7,13-14). Nhân vật này có thể tượng trưng cho dân tộc Ít-ra-en, một dân trung tín và thánh thiện. Đến thế kỷ I, người ta mới hiểu đoạn sách Đn 7,13 như nói về một cá nhân có vai trò trong ngày phán xét cuối cùng.
Trong Tin Mừng Nhất Lãm, Chúa Giê-su có lần đề cập đến nhân vật Con Người đến trong đám mây, giống với hình ảnh được diễn tả trong sách Ða-ni-en (Mt 24,30 ; Mc 13,26 ; Lc 21,27 ; Đn 7,13). Nhiều lần khác, Người dùng từ Con Người để nói về chính mình (x. Mt 16,13-15), trong tư cách tự hạ của Người, ví dụ : “Con Người không chỗ tựa đầu” (Lc 9,58). Con Người còn bị phản bội, phải chịu đau khổ và chịu chết rồi mới được phục sinh (x. Mc 8,31 ; 14,21). Thánh Gio-an cũng nói đến Chúa Giê-su là “Con Người cũng sẽ phải được giương cao” (x. Ga 3,14 ; 8,28 ; 12,34). Giương cao vừa nói lên việc bị đóng đinh, vừa nói lên việc được tôn vinh bên Thiên Chúa Cha.
Người Ki-tô hữu chờ đợi sự trở lại trong vinh quang của Con Người là Đức Giê-su Ki-tô. Khi vị thượng tế hỏi xem Chúa Giê-su có phải là Đấng Ki-tô không, Người trả lời : “Từ nay các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến” (Mt 26,64). Như thế, Chúa Giê-su khẳng định mình chính là nhân vật Con Người trong sách Đa-ni-en (x. Đn 7,13).
Kết : Tỉnh thức hiểu theo nghĩa thiêng liêng, là luôn sẵn sàng đón chờ Đức Ki-tô trở lại trong ngày quang lâm cánh chung. Chúa Giê-su đã dùng nhiều hình ảnh để diễn tả sự xảy ra đột ngột của ngày cánh chung : Người đến bất chợt như nạn hồng thuỷ, như kẻ trộm, như sự trở về bất ngờ của ông chủ … Vì thế Người mời gọi các môn đệ phải tỉnh thức, nghĩa là phải chu toàn trách nhiệm của mình, sẵn sàng như người đầy tớ ban đêm chờ đợi chủ về (x. Mc 13,33-37 ; Mt 24,43). Tỉnh thức còn là thái độ cảnh giác trước những nguy hiểm, cám dỗ và cạm bẫy trong cuộc sống hằng ngày. Thánh Phao-lô nhắc nhở chúng ta “hãy tỉnh thức và sống tiết độ” (1 Tx 5,6). Thánh Phê-rô cũng khuyên chúng ta hãy tỉnh thức “vì ma quỷ như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5,8). Người Ki-tô hữu chúng ta cần tỉnh thức để khỏi bị lây nhiễm những não trạng của thế gian này (x. Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 2727).
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, Chúa dạy chúng con phải luôn tỉnh thức và cầu nguyện, phải luôn sẵn sàng vì vào lúc chúng con hoàn toàn bất ngờ thì Chúa sẽ đến. Xin Chúa giúp chúng con luôn giữ cho ngọn đèn đức tin, đức cậy và nhất là đức mến luôn được cháy sáng trong cuộc lữ hành trần thế nhiều gian khổ này.
Tự vấn :
Chúa đến vào lúc chúng ta hoàn toàn bất ngờ, vì thế thánh Phao-lô nhắc nhở chúng ta : Hãy tỉnh thức và sống tiết độ. Vậy chúng ta đã làm theo lời thánh Phao-lô nhắc nhở chưa ?
BÀI ĐỌC THÊM
1. “Đức Giê-su đến gặp chúng ta một cách bất ngờ, nhưng không phải là không báo trước”
(Mgr. L. Daloz trong “Le règne des cieux s’est approché”, Desclée de Brouwer 1994, tr. 334-336).
Ngày và giờ là bí mật của Chúa Cha. Đó không phải là cơn thịnh nộ và sự trừng phạt vào ngày đã định. Nói rằng, chỉ một mình Chúa Cha biết ngày tận thế và việc Con Người trở lại, có nghĩa là đặt thế giới và nhân loại trong tay của Người, trong đôi tay nhân từ của Người. Đó là đặt chúng ta trong sự thanh thản, an toàn : Ai có thể rứt chúng ta ra khỏi đôi tay của Chúa Cha ? Chúng ta còn sợ gì, nếu chúng ta được ấp ủ trong tình yêu của Người ?
Đức Giê-su không mời gọi ta sợ hãi, nhưng mời gọi ta tỉnh thức. Người so sánh lụt đại hồng thuỷ và ông Nô-ê : Người ta không nghi ngờ gì hết cho đến khi lụt đại hồng thuỷ đến cuốn trôi hết tất cả mọi sự. Tất cả mọi người mãi lo lắng sự đời : người ta mãi lo ăn uống, cưới vợ gả chồng. Chúng ta cũng vậy, chúng ta mãi lo lắng sự đời, và đó là điều cần thiết ! Chính lúc đó, Chúa đến gặp chúng ta. Nhưng để khỏi bị bất ngờ khi Người đến, chúng ta phải chuẩn bị như ông Nô-ê. Cũng giống như ông, chúng ta có lời Chúa cảnh báo và nhắc nhở chúng ta. Đức Giê-su nói : Đó, Thầy đã báo trước cho anh em. Người đến gặp chúng ta một cách bất ngờ, nhưng không phải là không báo trước. Cuộc gặp gỡ này không chỉ diễn ra vào lúc tận thế. Cái chết của mỗi người cũng sẽ bất ngờ. Phải chăng cái chết là ngày tận thế, ngày tận thế riêng của mỗi người, lúc mà Đức Giê-su đến gặp riêng mỗi người ? Ít nhất điều đó đã cảnh báo chúng ta qua ví dụ của Tin Mừng : “Bấy giờ hai người đàn ông trên cánh đồng : một người sẽ được đem đi, người kia bị bỏ lại ; hai người đàn bà đang xay bột ở cối xay : một người được đem đi, một người bị bỏ lại …”
Quan trọng nhất vẫn là tỉnh thức. Không lo lắng, nhưng chú ý, chú ý vào Chúa Cha, chú ý vào Đức Giê-su Ki-tô. Nếu chúng ta không biết ngày và giờ, thì điều quan trọng là phải biết Người, và phải nhận ra Người khi Người đến với chúng ta. Đức Giê-su nhắc đi nhắc lại hai lần rằng vì ta không biết nên ta phải tỉnh thức : Vậy hãy tỉnh thức, bởi vì anh em không biết ngày nào Chúa sẽ đến … Để kết thúc, Người dùng một ví dụ chỉ cho thấy sự nghiêm trọng của tình thế, và sự gấp rút phải tỉnh thức. Ví dụ hơi mâu thuẫn, vì nói về một ông chủ nhà tỉnh thức, bởi lẽ ông ta biết giờ kẻ trộm lẻn đến ban đêm. Khi biết, thì dễ chờ đợi hơn ! Còn chúng ta, chúng ta thấy thời gian dài, mà chẳng hay biết gì. Không biết là một lý do khiến chúng ta đừng ngủ say. Được hay thua thì điều quan trọng là đừng để tường nhà mình bị chọc thủng. Con Người đến gặp chúng ta. Đừng có ngủ say trong thời gian đó : “Đó là lý do tại sao anh em phải tỉnh thức, bởi vì vào giờ mà anh em không ngờ, Con Người sẽ đến.”
2. “Vì không biết Người, anh em hãy tỉnh thức”
(P. Geoitrain, trong “Assemblées du Seigneur”, n. 5, tr. 28).
“Lời khẳng định của Đức Giê-su về việc chúng ta không biết ngày, giờ, tránh cho chúng ta khỏi mọi tính toán về ngày Chúa đến. Niềm hy vọng Người trở lại luôn luôn còn đó, không phải là một chờ đợi bồn chồn, mà là một chắc chắn về Đấng đã đến, đang đến sống giữa những người thân yêu của Người, sẽ đem lại ý nghĩa đích thực cho cuộc sống và cho vũ trụ của chúng ta, Thiên Chúa nên mọi sự trong mọi người” (1 Cr 15,24-28).
Được giải thoát khỏi những vấn nạn “khi nào và thế nào” rồi, người Ki-tô hữu chỉ còn lo chú ý vào việc phải sống như là ngày đó đã đến thật sự. Trong ý nghĩa đó, những câu chúng ta vừa đọc mời chúng ta hướng về trời ít hơn là gọi chúng ta quan tâm đến những bổn phận hằng ngày mà Thầy chúng ta đòi hỏi. Sự tỉnh thức càng quyết liệt hơn khi giờ kết thúc vẫn còn chưa điểm. Tiếng kêu của Tin Mừng : “Hãy sẵn sàng, hãy tỉnh thức” phải vang dội trong tâm hồn của người đang chờ đợi cuộc hội ngộ lớn lao, không phải như một nỗi ám ảnh liên hệ đến ơn cứu độ riêng tư của mình, mà như một đòi hỏi trung thành với những sứ mạng Thầy trao phó.
3. “Hãy có một con tim tỉnh thức”
(G. Boucher, “La terre parle au ciel”, tr. 5, tại nhà tác giả : Résidence de Kerampir, 19820 Bohars).
“Thiên Chúa cứu chuộc dân Người. Thiên Chúa cứu chuộc nhân loại. Thiên Chúa tỉnh thức ta. Thiên Chúa mời gọi ta. Tới phiên ta trả lời Người.
Nếu ta ngủ mê, quá bận rộn với những công việc vật chất, ta sẽ ở bên lề biến cố Thiên Chúa tỏ mình ra là Đấng Cứu Độ.
Chẳng lẽ mối lo mua bánh hay thu hoạch rau quả không thể nối tiếp những phút suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời ? Những phút ta dừng lại để kiểm điểm mối tương giao với Thiên Chúa ? Một lời nhắc nhở chúng ta đừng quá đầu tư vào cuộc sống vật chất đến nỗi không nhìn ra ơn cứu độ mà Thiên Chúa thực hiện nơi ta, “ngày tốt đẹp” mà Người đã nói với ta hay sao ?
Nếu muốn chụp lấy tấm ván cứu độ, ta hãy mở rộng đôi mắt. Tinh thần minh mẫn. Con tim tỉnh thức. Tâm hồn đợi chờ.
Và ta sẽ đi chuyến tàu đang tới.”
Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)
Suy niệm: Con người không biết trước được mình sẽ chết lúc nào, chết ở đâu. Chết bằng cách nào ?… Thế nhưng một điều có thể chắc chắn là ai ai cũng phải chết. Chết không phải là điều đáng sợ nhưng chết làm sao mới là điều phải quan tâm.
“Sống sao thác vậy”. Sống trong ơn lành, chết trong bình an. Sống trong tình yêu thương, chết trong niềm hạnh phúc.
Mỗi người chỉ chết một lần, và điều gì đi sau cái chết sẽ mãi mãi không bao giờ đổi thay. Chúng ta sẽ sống thế nào để khi giờ Chúa đến chúng ta được thanh thản ra đi mà không phải hối tiếc.
Cầu nguyện: Lạy Cha, hôm nay toàn thể Giáo Hội chúng con bước vào mùa vọng. Mùa mà Giáo Hội dành đặc biệt để thúc giục con cái mình chuẩn bị sẵn sàng và thức tỉnh luôn, để đón mừng ngày Ðức Giêsu đến lần thứ hai.
Lạy Cha, xin ban Thánh Thần của Cha đến mỗi người trong gia đình chúng con, giúp chúng con biết khôn ngoan chuẩn bị cho mình một cuộc ra đi bình an vào cõi vĩnh hằng. Xin cho chúng con biết chọn lựa cái bất diệt chứ không phải cái mau qua. Ðể chúng con được hân hoan trong ngày trình diện Cha, và chúng con sẽ mãi mãi sống trong ân tình và hạnh phúc bên Cha. Chúng con cầu xin nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.
Ghi nhớ: “Hãy tỉnh thức để sẵn sàng”.
Suy niệm (Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái)
1. Bài đọc I (Is 2,1-5):
Vào hậu bán thế kỷ VIII trước công nguyên, vương quốc Giuđa khá thịnh vượng về mặt vật chất, nhưng lại rất suy đồi về mặt đạo đức. Trước tình trạng ấy, ngôn sứ Isaia một mặt thẳng thắn vạch tội dân và kêu gọi họ ăn năn sám hối, mặt khác loan báo rằng nếu dân trở lại thì Thiên Chúa sẽ ban cho họ một tương lai tốt đẹp.
Tương lai ấy được Isaia diễn tả bằng những hình ảnh thi vị:
- Ðó sẽ là thời dân Thiên Chúa được tôn vinh: “Núi Nhà Chúa sẽ được xây trên đỉnh các núi”. Mà dân Thiên Chúa được tôn vinh cũng có nghĩa là Thiên Chúa được tôn vinh, vì chính nhờ đức tin của họ mà các dân tộc trên mặt đất sẽ biết tới Chúa và tôn thờ Ngài: “Nhiều dân tộc sẽ đến và nói rằng: Hãy đến, chúng ta hãy lên núi Chúa và lên nhà của Giacóp”.
- Khi mọi người đã biết tôn thờ Chúa thì đó cũng sẽ là một thời thái bình: “Người ta sẽ lấy gươm mà rèn nên lưỡi cày, lấy giáo rèn nên lưỡi liềm. Nước này không còn tuốt gươm ra đánh nước kia nữa”.
2. Ðáp ca (Tv 121)
Tâm tình đầy lạc quan hy vọng của Isaia được diễn tả qua Tv 121: “Ôi tôi sung sướng biết bao khi nghe nói: Chúng ta sẽ về nhà Chúa”.
3. Bài Tin Mừng (Mt 24,37-44)
Ðức Giêsu cho biết Ngày tốt đẹp ấy sắp đến. Nhưng Ngài đặc biệt lưu ý ba điều:
a/ Ngày ấy sẽ đến một cách không ai ngờ cũng như chuyện Hồng thuỷ thời Nôe: thiên hạ cứ mải mê với những chuyện thế tục “Người ta ăn uống, dựng vợ gả chồng, mãi đến chính ngày ông Nôe vào tàu mà người ta cũng không ngờ”.
b/ Trong Ngày ấy, số phận loài người sẽ phân thành hai hạng khác nhau: có người sẽ “được đem đi” (được tiếp nhận), nghĩa là được nhận vào hưởng tương lai hạnh phúc với Chúa, nhưng có người sẽ “bị bỏ lại”, nghĩa là không được hưởng hạnh phúc ấy (Chú ý: một số bản Việt ngữ đã dịch ngược nghĩa là “bị đem đi” và “được để lại”).
c/ Ðược tiếp nhận hay bị bỏ rơi là do người ta có chuẩn bị sẵn sàng hay không. Vì thế Ðức Giêsu kết luận: “Vậy các con phải sẵn sàng”
4. Bài đọc II (Rm 13,11-14)
Thánh Phaolô nói rằng Ngày tươi sáng đó rất gần rồi: “Giờ đây phần rỗi của chúng ta gần đến… Ðêm sắp tàn, ngày gần đến”. Và Ngài giải thích thế nào là tỉnh thức sẵn sàng:
a/ Trước hết, tỉnh thức sẵn sàng là “từ bỏ những việc làm đen tối và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu”. Nghĩa là phải tích cực chiến đấu để loại trừ sự dữ và cổ vũ cho sự thiện.
b/ Kế đó, tỉnh thức sẵn sàng là thay đổi cách sống: Hãy bỏ nếp sống cũ theo xác thịt, thể hiện trong việc ăn uống say sưa, chơi bời dâm đãng, tranh chấp ganh tị, lo lắng thỏa mãn những dục vọng xác thịt; thay vào đó bằng một cuộc sống mới theo gương Ðức Giêsu Kitô.
IV. Gợi Ý Giảng
1. Phải biết nuôi hy vọng
Alan Platon là một nhà văn Nam Phi, tác giả một quyển sách nhan đề Cry the Beloved Country trong đó ông mô tả hoàn cảnh khốn khổ của nước Nam Phi dưới chế độ phân biệt chủng tộc apartheid. Platon có một giấc mơ: ông mơ có một ngày mà mọi người dân trong đất nước của ông đều được đối xử công bình và bình đẳng. Và để thực hiện giấc mơ ấy, ông đã lao mình vào chính trị, đấu tranh suốt mấy mươi năm để xoá bỏ chế độ apartheid ấy. Nhiều người cho rằng mơ ước và việc làm của Platon là không thể nào thực hiện được. Nhưng ông vẫn kiên trì vì tin rằng ngày mơ ước ấy sẽ đến. Chỉ tiếc là ông đã chết trước khi thấy được ngày đó, nhưng lịch sử chứng minh rằng ông đã đúng.
Ngôn sứ Isaia còn có một giấc mơ táo bạo hơn nữa: Ông mơ tới ngày các nước sẽ không còn tuốt gươm chém giết lẫn nhau nữa, người ta sẽ lấy gươm rèn thành lưỡi cày, lấy giáo rèn nên lưỡi liềm, và mọi người sẽ bước đi trong ánh sáng của Chúa. Thật là một giấc mơ tuyệt vời! Có người cho rằng giấc mơ ấy sẽ đến khi Ðấng Messia đến. Người khác cho rằng nó chỉ sẽ đến khi Ðấng Messia lại đến lần thứ hai. Có kẻ nói nó sẽ chẳng bao giờ đến, đó chỉ là nằm mơ giữa ban ngày. Nhưng vẫn có người tin rằng thế nào nó cũng đến nên miệt mài theo đuổi như Alan Platon trong chuyện trên.
Một chuyện khác: Một người thợ săn nghe nói tới một con chim đặc biệt có đôi cánh rộng màu trắng rực rỡ. Ðó là con chim đẹp nhất trong các loài chim trên mặt đất. Vì thế người thợ săn không quản ngại đường xa, trèo đồi vượt suối đi tìm nó hết ngày này sang ngày khác, tháng này đến tháng nọ, năm này đến năm kia. Một lần anh đã may mắn thấy được bóng dáng nó ở một khoảng cách rất xa. Nhưng chỉ thoáng thấy là nó bay đi mất. Anh vẫn kiên trì đi tìm. Một ngày kia anh nhặt được một cọng lông trắng của nó. Rồi anh chết đi mà không bao giờ bắt được con chim mơ ước của mình.
Cuộc săn tìm của người thợ săn là hình ảnh của loài người tìm kiếm hòa bình. Giấc mơ toàn thế giới vui hưởng thái bình của Isaia có thể không thực hiện được nhưng nó không chỉ đơn thuần là nằm mơ giữa ban ngày, mà giống như một ngọn núi mà ta mơ có ngày sẽ đứng trên đó. Dĩ nhiên muốn thế thì ta không thể cứ ngồi một chỗ mà mơ, hoặc ước chi nó từ trên trời hạ thấp xuống tận chân ta. Ta phải leo, phải có chương trình và kiên trì làm theo chương trình ấy, cho dù có chậm chạp và lâu dài.
Ngay cả khi giấc mơ thái bình ấy sẽ không bao giờ được thực hiện trọn vẹn trên toàn thế giới đi nữa, thì việc theo đuổi giấc mơ ấy cũng có ảnh hưởng tốt trên đời ta. Ðiều quan trọng không phải là đạt được mục đích mà là sống có mục đích. Nhiều khi, có một mục đích tốt cho đời mình thì kể như đủ, miễn là không bao giờ ta bỏ mục đích ấy.
Thế giới ngày nay nhờ khoa học kỹ thuật tiến bộ có thể làm được hầu như mọi điều, nhưng lại bất lực không tạo ra hòa bình được: bất hòa khắp nơi, trên bình diện lớn như nước này với nước nọ, dân này với dân nọ; hoặc trên bình diện nhỏ như nhóm này với nhóm kia, người này với người khác. Mỗi Kitô hữu có thể góp phần mình vào việc thực hiện giấc mơ thái bình của Isaia, bằng những cố gắng xoá bỏ óc kỳ thị, sự đố kỵ, ích kỷ, chia rẻ nhau…; bằng cách gieo rắc hòa thuận, cảm thông, hợp tác…
Chúng ta cũng nên biết rằng chúng ta không cô đơn trong những cố gắng ấy, mà có Chúa giúp ta: Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta đến nỗi sai Con Một của Ngài đến ở với loài người chúng ta, thiết lập Nước Thiên Chúa ở trần gian này, và cùng đồng hành với chúng ta trong nỗ lực leo lên đỉnh núi thái bình.
2. “Ðây là lúc chúng ta phải thức dậy”
Lời Thánh Phaolô trong bài đọc II làm cho chúng ta giật mình. Phải chăng chúng ta đang ngủ vùi ?
Ðúng vậy, dù mắt chúng ta vẫn mở nhưng thực sự chúng ta đang ngủ trong bóng tối mịt mù:
– Chúng ta ngủ vì “những việc làm đen tối”
– Chúng ta ngủ vì cứ “chè chén say sưa, chơi bời dâm đãng”
– Chúng ta ngủ vì lòng đầy “tranh chấp đố kỵ”
– Chúng ta ngủ vì chỉ “lo lắng thỏa mãn những dục vọng xác thịt”.
Nhưng Thánh Phaolô nhắc nhở rằng: “Ðêm sắp tàn, ngày gần đến” và “Giờ đây, phần rỗi chúng ta gần đến, hơn lúc chúng ta mới tin đạo”, vậy “Ðây là lúc chúng ta phải thức dậy”.
– “Hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày”
– Hãy “cầm lấy khí giới của sự sáng” để chiến đấu chống lại những sức mạnh của tối tăm tội lỗi.
– Hãy cởi bỏ con người cũ thiên về những dục vọng xác thịt để “mang lấy Ðức Giêsu Kitô”.
3. Hai người, hai số phận
“Hai người đàn ông đang ở ngoài đồng, một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi. Hai người đàn bà đang xay bột, một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi”.
Ðức Giêsu chỉ nói tình trạng như thế thôi chứ không nói rõ lý do tại sao. Tuy nhiên chúng ta có thể biết lý do qua câu chuyện Ngài kể về thời ông Nôe: Ông Nôe chính là người được tiếp nhận, nhờ ông đã tỉnh táo nghe được lời Chúa báo sắp có nạn Hồng thuỷ, và ông đã tích cực chuẩn bị đóng tàu. Còn mọi người khác là những kẻ bị bỏ rơi, vì họ chẳng để ý tới việc gì khác ngoài cuộc sống vật chất, “ăn uống, dựng vợ gả chồng”. Những bận tâm đó đã chiếm hết tâm trí họ rồi, còn tâm trí đâu mà để ý đến lời Chúa. Giả như ông Nôe có kể lại cho họ nghe lời cảnh báo của Chúa thì họ cũng không tin và còn cho là chuyện viễn vông, không thiết thực như chuyện “ăn uống, dựng vợ gả chồng”.
Trong cuộc sống của chúng ta, giữa những bề bộn lo lắng về vật chất, thế tục, Lời Chúa vẫn vang lên để nhắc chúng ta phải biết quan tâm đến nhiều việc khác thuộc phương diện tinh thần, phương diện siêu nhiên, phương diện đời đời… Ai tỉnh táo thì nghe được và sẽ “được tiếp nhận”, kẻ nào mãi thờ ơ thì như “đàn gãy tai trâu” và sẽ “bị bỏ lại”.
4. Chúa cấm con thất vọng
* Hãy cố gắng, dù yếu đuối ngã sa, con hãy xin Chúa thứ tha và tiếp tục tiến. Trên võ đài, trong vận động trường quốc tế, các lực sĩ cũng lắm lần ngã quỵ, bị nhiều cú đấm, bị thương tích, nhưng cứ vùng dậy, cứ hy vọng, họ đã đoạt giải vô địch quốc tế (ÐHV 971)
Cha Charles de Foucauld có để lại mấy giòng sau đây. Ðọc kỹ, con sẽ thấy phấn khởi tâm hồn và lấy lại được niềm tin, nhất là những lúc hầu như con thất vọng:
– “Dù con xấu xa, dù con tội lỗi, con cũng trông cậy vững chắc rằng con sẽ được lên trời. Chúa cấm con thất vọng về điều đó”.
– “Dù con bội bạc cách mấy, khô khan cách mấy, hèn nhát cách mấy, lợi dụng ơn Chúa cách mấy. Chúa cũng vẫn bắt con phải hy vọng được sống đời đời dưới chân Chúa trong tình thương và sự thánh thiện”.
– “Chúa cấm con ngã lòng trước sự khốn nạn của con. Chúa không cho con nói ‘Tôi không thể đi tới được, đường lên trời khó khăn quá, tôi phải thụt lùi và trở xuống chỗ thấp’“
– “Trước những sa ngã trở đi trở lại của con, Chúa lại cấm không cho con nói: ‘Tôi không hề sửa mình được, tôi không có sức để nên thánh, tôi không xứng đáng để vào thiên đàng…”
– “Vậy Chúa muốn con phải trông cậy Chúa luôn, vì Chúa ra lệnh và vì con phải tin ở tình thương và quyền năng của Chúa” (ÐHY NVT, Trên đường lữ hành)
5. Thức dậy
Ở Mêhicô, giáo phận của Ðức Cha Samuel Ruiz có tới 80% giáo dân là người da đỏ bản xứ. Bản thân ngài nổi tiếng là người bênh vực cho dân da đỏ. Nhưng không phải tự nhiên mà ngài làm được việc đó đâu. Trong một buổi nói chuyện ở Nhà thờ Chính tòa Westminster Mùa Chay 1996, ngài đã thố lộ tâm sự như sau: “Suốt 20 năm làm giám mục giáo phận này, tôi như một con cá đang ngủ, nghĩa là mắt vẫn mở nhưng chẳng thấy gì. Tôi còn hãnh diện vì giáo phận có nhiều nhà thờ và giáo dân đông đúc. Rồi một hôm tôi gặp cảnh một người da đỏ bị trói vào một thân cây và bị ông chủ dùng roi quất túi bụi vì lý do người này không chịu làm thêm 8 giờ phụ trội nữa.” Chính cái biến cố đó đã làm cho Ðức Cha Samuel Ruiz “thức dậy”. Từ đó trở đi, ngài hăng hái tranh đấu cho quyền lợi người da đỏ.
Chuyện trên cho ta thấy hai điều: 1/ Thiên Chúa có nhiều cách để kêu gọi người ta thức dậy; 2/ Và cũng có nhiều cách thức dậy: thức dậy về thể xác (thôi ngủ), thức dậy về xã hội, thức dậy về đạo đức v.v.
Suy niệm (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.)
GIỜ ANH EM KHÔNG NGỜ
Nhiều người tưởng Kitô giáo đã kết thúc
bằng việc Chúa Giêsu phục sinh và lên trời.
Chẳng còn gì phải chờ nữa.
Thật ra Kitô giáo cũng là tôn giáo của chờ mong.
Chúng ta ít khi để ý đến câu sau trong Kinh Tin kính:
“Người sẽ trở lại trong vinh quang,
để phán xét kẻ sống và kẻ chết.”
Các kitô hữu sơ khai ngóng ngày Chúa Giêsu lại đến.
Họ cầu xin: “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến !” (Kh 22, 20),
và họ hy vọng chẳng bao lâu nữa Chúa sẽ trở lại.
Các thế hệ kitô hữu vẫn giữ nguyên niềm hy vọng này.
Hai ngàn năm trôi qua là một Mùa Vọng kéo dài.
Mùa Vọng không chỉ là bốn tuần trước lễ Giáng Sinh.
Ngày nào Chúa chưa trở lại trong vinh quang
Ngày đó chúng ta còn sống trong Mùa Vọng.
Cứ vào đầu Mùa Vọng, Phụng vụ lại nhắc ta phải chờ.
Chờ Ngày Chúa quang lâm, toàn thắng trên mọi địch thù.
Chờ Ngày Chúa đến để xét xử toàn thể vũ trụ.
Chờ Ngày thân xác chúng ta được phục sinh.
Ngày tận thế không phải là ngày của hủy diệt
cho bằng là ngày thụ tạo bắt đầu cuộc sống mới.
Tuy nhiên, Ngày Chúa đến là một ngày bất ngờ (Mt 24, 42).
Chẳng ai biết đích xác giờ nào Chúa sẽ đến (Mt 24, 44).
Đây là một mầu nhiệm chỉ mình Chúa Cha biết (Mt 24, 36).
Chính vì Chúa đến bất ngờ mà con người phải sẵn sàng,
Khi luôn sẵn sàng, bất ngờ không còn là bất ngờ nữa.
Việc Chúa đến bất ngờ không làm chúng ta hoảng sợ.
Ai luôn canh thức thì chẳng sợ kẻ trộm khoét vách nhà mình.
Chúa không đến bất ngờ để chơi khăm chúng ta,
vì Ngài muốn mọi người được cứu độ khi Ngài đến.
Việc chờ đợi lâu có thể khiến lòng chúng ta phai nhạt.
Chúng ta bị hút vào vòng xoáy của cuộc sống mỗi ngày.
Chuyện ăn uống, giải trí, chuyện gia đình, con cái,
Chuyện làm ăn, bán buôn, chuyện thăng quan tiến chức.
Chúng ta tưởng mọi sự sẽ mãi mãi trôi êm,
cho đến khi một biến cố bất ngờ xảy ra làm tất cả vỡ vụn.
Những người thời ông Nôê bất ngờ trước cơn hồng thủy.
Những người ở Xơ-đôm bất ngờ trước ngọn lửa từ trời.
Nhiều người cũng bị bất ngờ vào ngày Chúa trở lại.
Lúc đó có hai người đàn ông đang làm ruộng.
Họ đang vất vả làm việc để nuôi gia đình.
Bề ngoài hai người chẳng có gì khác nhau.
Cũng có hai phụ nữ đang kéo cối xay bột để làm bánh.
Họ đang lo cho bữa ăn của cả nhà.
Bề ngoài hai người này cũng chẳng có gì khác nhau.
Nhưng khi Chúa đến thì chỉ một người được đem đi,
còn người kia bị bỏ lại (Lc 24, 40-41).
Chúng ta không rõ tại sao lại có sự khác biệt lớn lao ấy,
dù họ làm cùng một việc như nhau.
Chỉ Chúa là Thẩm phán mới biết nội tâm từng người.
Người được tuyển chọn “sẽ được đem đi
trên đám mây để nghênh đón Chúa” (1 Tx 4, 17; x. Mt 24, 31).
Làm thế nào để người kitô hữu sống đời thường,
sống như mọi người, với bao nỗi âu lo và trách nhiệm,
mà vẫn không bị kéo xuống bởi cái tầm thường?
Làm sao để những nhu cầu cấp bách của cuộc sống hiện tại
không làm cho họ quên những giá trị cao cả, nhân văn?
Làm sao để khi tận tụy xây dựng sự nghiệp ở đời này
họ không quên tích lũy cho mình gia sản trên trời?
Thời gian chờ Ngày Chúa trở lại là thời gian của Giáo Hội.
Giáo Hội phải rao giảng Tin mừng trên khắp thế giới,
để làm chứng cho mọi dân tộc được biết.
Rồi sau đó mới đến Ngày tận thế (Mt 24, 14).
Thời gian chờ Ngày Chúa trở lại trong vinh quang
là thời gian làm cho thế giới công bằng hơn, huynh đệ hơn,
để khi Chúa đến không một ai bị bỏ lại.
LỜI NGUYỆN
Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con thấy Chúa thật lớn lao,
để đối với con, mọi sự khác trở thành bé nhỏ.
Xin cho con thấy Chúa thật bao la,
để cả mặt đất cũng chưa vừa cho con sống.
Xin cho con thấy Chúa thật thẳm sâu,
để con dễ đón nhận nỗi khổ đau sâu thẳm nhất.
Lạy Chúa Giêsu,
xin làm cho con thật mạnh mẽ,
để không nỗi thất vọng nào
còn chạm được tới con.
Xin làm cho con thật đầy ắp,
để ngay cả một ước muốn nhỏ
cũng không còn có chỗ trong con.
Xin làm cho con thật lặng lẽ,
để con chỉ còn loan báo Chúa mà thôi.
Xin Chúa ngự trong con thật sống động,
để không phải là con,
mà là chính Ngài đang sống.
Tác giả Vô danh
Suy niệm (Lm. Nguyễn Vinh Sơn, SCJ)
Câu chuyện
Vào năm 79 trước Công nguyên, núi Vésuve bất thình lình phun lửa dữ dội, chôn vùi thành phố Pompei phồn vinh dưới một lớp nham thạch dày tới 7 mét. Năm 1748, sau 18 thế kỷ, người ta bắt đầu khai quật thành phố xấu số này. Giữa bao dinh thự đổ nát, bao đồ vật ngổn ngang, bao người chết đau đớn hoảng sợ, người ta ngạc nhiên tìm thấy xác của 38 người lính La Mã đang thi hành nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự trong lúc xảy ra tai họa khủng khiếp đó. Điều đáng nói là những người lính này đang tuần canh, tay còn cầm gươm, đi trong tư thế thi hành nhiệm vụ mặc dù cái chết kề bên.
Suy niệm
Cơn hồng thủy nổi tiếng nhất được lưu truyền trong nhân gian hầu như ở đâu cũng được nghe nói đến, đó là hồng thủy thời ông Noe được ghi lại trong Kinh Thánh nơi sách Sáng Thế ký (x. St 7-8): Con người gian ác sa đọa luôn tính toán những điều tội lỗi (x. St 6,5), nên Chúa Trời quyết định thanh tẩy tội lỗi của họ gây ra, bằng một cơn mưa bốn mươi ngày đêm làm ngập lụt tất cả (x. St 7,17-24), nhưng Thiên Chúa lại cứu ông Noe vì ông sống công chính và có đạo đức kính sợ Thiên Chúa (x. St 6,9; 7,1). Ngài đã dạy ông cách đóng một con thuyền lớn để tự cứu mình và các loài khác để sinh tồn trên nhân gian (x. St 6,13-22).
Chúa Giêsu đã dùng sự kiện hồng thủy thời Noe để minh họa ngày Thiên Chúa trở lại phán xét chung: Ngày Thiên Chúa đến xét xử cũng bất ngờ như cơn hồng thủy. Cho nên chúng ta muốn được cứu cần phải sống trong tinh thần chờ đợi và chuẩn bị sẵn sàng như Ngài dạy: “Vậy hãy tỉnh thức, vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến” (Mt 24,42). Ông Noe chuẩn bị sẵn sàng và đã được cứu, còn nhân loại chìm đắm trong sự hưởng thụ thì bị dìm trong cơn giận dữ của hồng thủy. Ngày Thiên Chúa trở lại cũng bất ngờ như hồng thủy, bất ngờ như kẻ trộm “viếng thăm”, vì thế hãy tỉnh thức như Chúa Giêsu nhấn mạnh: “Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến” (Mt 24,44).
Mùa Vọng – mùa chờ đợi – mùa tỉnh thức và chuẩn bị đón Chúa đến với tinh thần luôn sẵn sàng: sẵn sàng như Noe trước hồng thủy, nên ông đã được cứu. Mùa Vọng hôm nay, có lẽ bối cảnh cũng như thời Noe, con người vẫn đang mải miết chạy theo những nhu cầu vật chất, say mê trong những toan tính lợi lộc trần gian… Ngày quang lâm của Thiên Chúa sẽ đến trong một ngày không ngờ và chỉ có ai công chính, thức tỉnh, sẵn sàng như Noe thì mới được cứu.
Như thánh Phaolô khẳng định “đêm sắp tàn, ngày gần đến” (Rm 13,12), ngày Thiên Chúa đến để phán xét những việc làm của con người trên trần gian. Thức tỉnh như lời kêu gọi tỉnh thức của Phaolô: “Hãy từ bỏ công việc của đêm tối và mặc lấy mã giáp của sự sáng” (Rm 13,12).
Tôi toàn tâm toàn ý tỉnh dậy từ những cơn mê ngủ và hơn nữa sẵn sàng như Thánh Grégoire le Grand gợi ý: “Thức tỉnh bằng mọi công trình lớn nhỏ trong đời, được xây dựng trên nền tảng đức tin. Hôm nay và ngày mai: ngày nào cũng là ngày trông đợi của tôi, ngày nào cũng là ngày sẵn sàng, để dù Chúa đến bất ngờ như hồng thủy, tâm hồn tôi vẫn thức tỉnh”.
Ý lực sống
“Maranatha – Lạy Ngài xin hãy đến”.
(Kh 22,20)
5. Suy niệm (song ngữ)
1st Sunday of Advent
Reading I: Isaiah 2:1-5
Reading II: Romans 13:11-14
Chúa Nhật 1 Mùa Vọng
Bài đọc I: Isaia 2:1-5
Bài đọc II: Rôma 13:11-14
Gospel
Matthew 24:37- 44
37 For as it was in the days of Noah, so it will be at the coming of the Son of Man.
38 In (those) days before the flood, they were eating and drinking, marrying and giving in marriage, up to the day that Noah entered the ark.
39 They did not know until the flood came and carried them all away. So will it be (also) at the coming of the Son of Man.
40 Two men will be out in the field; one will be taken, and one will be left.
41 Two women will be grinding at the mill; one will be taken, and one will be left.
42 Therefore, stay awake! For you do not know on which day your Lord will come.
43 Be sure of this: if the master of the house had known the hour of night when the thief was coming, he would have stayed awake and not let his house be broken into.
44 So too, you also must be prepared, for at an hour you do not expect, the Son of Man will come.
Phúc Âm
Mátthêu 23:35-43
37 “Quả thế, thời ông Nôê thế nào, thì cuộc quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy.
38 Vì trong những ngày trước nạn hồng thủy, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nôê vào tàu.
39 Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy. Cuộc quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy.
40 Bấy giờ, hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại;
41 hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại.
42 “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến.
43 Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẵn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu.
44 Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.
Interesting Details
- Context: At Jesus’ time as is now, two issues are entangled. Some of those who believe that the end of time will come would try to calculate when that would be, and when the calculation fails, doubt is thrown on the notion of the end of time. In this passage, Matthew distinguishes the two. The end of time will come, but do not try to calculate it, instead be prepared always.
- This passage includes three parables of the end: the great flood, working men and women, and the thief. All three emphasize that the Second Coming will be sudden and unpredictable. The lesson is to WATCH right now.
- Who needs to watch? Not only sinners, but everyone. In Jesus’ description, Noah’s contemporaries were doing regular things (eating, drinking, and marrying). In the second parable, people were doing good work, and those who were saved appear to be the same as those who were not saved (though God can tell the difference).
- How should we watch? It may take time to prepare, and may appear contradictory to common sense. One example was Noah’s building a great big boat on land and gathering a large collection of animals.
Chi Tiết Hay
- Ở thời Đức Giê-su, cũng như ở thời đại này, một số người tin rằng ngày sau hết sắp xảy đến và tìm cách đoán ngày đó. Nhưng khi thấy người ta tiên đoán trật họ đâm ra nghi ngờ là không biết sẽ có ngày tận thế hay không. Ở đây Matthêu phân biệt rõ hai vấn đề đó: sẽ có ngày tận thế, nhưng thay vì tìm cách đoán mò, thì hãy chuẩn bị sẵn sàng.
- Bài phúc âm hôm nay kể lại ba dụ ngôn về ngày sau hết: nạn lụt, những người đàn ông và đàn bà đang làm việc, và kẻ trộm. Cả ba đều nhấn mạnh rằng sự trở lại lần thứ hai của Chúa Giêsu sẽ bất thình lình và không báo trước. Bài học rút tỉa ở đây là phải canh thức sẵn sàng ngay từ bây giờ.
- Những ai phải canh thức sẵn sàng? Không phải chỉ những người tội lỗi mà thôi, nhưng tất cả mọi người đều phải tỉnh thức. Theo lời mô tả của Chúa Giêsu thì trong thời ông Noe, mọi người vẫn làm việc thường ngày (ăn uống, lập gia đình …). Trong dụ ngôn thứ hai, mọi người đều làm việc một cách chăm chỉ, không có gì khác biệt giữa những người được cứu thoát và những người không được (duy chỉ mình Thiên Chúa biết).
- Chúng ta phải tỉnh thức như thế nào? Có thể sẽ phải cần thời giờ để chuẩn bị và khi làm như thế có vẻ ngược đời (giống như ông Noe, trong khi mọi người đang sống bình thường thì ông đóng tàu và gom góp các súc vật lại).
One Main Point
I should watch, open my eyes, and examine my life. Though it appears routine, commonly accepted, and like everyone else, am I ready?
Một Điểm Chính
Tôi phải tỉnh thức, canh chừng và kiểm điểm kỹ cuộc sống của tôi. Mặc dù cuộc sống có vẻ bình thường như mọi người khác, tôi có sẵn sàng chăng?
Reflections
- It is difficult to question what I do routinely, and even more difficult when it appears good. For example, I work hard to earn a living for the family I love; however I may forget to ask whether God calls me to work that much, whether I work in a loving manner, and whether I share my earnings with the poor in the ghetto I pass by everyday on the way to work. Do I set some time or get some outside perspectives to help me examine my life?
- If I were to die tonight, what would I do now?
- Would my watchfulness appear ridiculous to people around me, the way Noah’s ark did? If so, dare I?
Suy Niệm
- Thật khó để đặt câu hỏi về những gì tôi làm thường xuyên, và khó hơn nữa nếu những điều đó là những điều có vẻ tốt. Chẳng hạn tôi làm việc cực nhọc để nuôi sống gia đình mà tôi yêu mến; tuy nhiên có thể tôi sẽ quên tự hỏi rằng Chúa có muốn tôi làm nhiều qúa như thế chăng, hoặc tôi có làm với tình thương, hoặc tôi có chia sẻ những gì tôi kiếm được với người nghèo khổ trong các xóm lao động mà tôi đi qua mỗi ngày. Tôi có để ra một ít thời giờ hoặc nhờ những cái nhìn khách quan để giúp tôi kiểm điểm cuộc sống chăng?
- Nếu tôi sẽ chết tối nay, tôi sẽ làm gì bây giờ?
- Liệu thái độ tỉnh thức sẵn sàng của tôi có làm cho người chung quanh của tôi chế diễu chăng?, như ông Noe đã bị xưa kia? Nếu có, thì tôi có dám làm như thế chăng?




















