
Đức Giê-su đã ăn chay bốn mươi ngày và chịu cám dỗ.
Bài đọc 1: St 2,7-9; 3,1-7
Thiên Chúa dựng nên hai ông bà nguyên tổ. Ông bà phạm tội.
Bài trích sách Sáng thế.
2 7 Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật. 8 Rồi Đức Chúa là Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Ê-đen, về phía đông, và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra.
9 Đức Chúa là Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn, và cây cho biết điều thiện điều ác.
3 1 Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà Đức Chúa là Thiên Chúa đã làm ra. Nó nói với người đàn bà: “Có thật Thiên Chúa bảo: ‘Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?’ 2 Người đàn bà nói với con rắn: “Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn. 3 Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: ‘Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết.’” 4 Rắn nói với người đàn bà: “Chẳng chết chóc gì đâu! 5 Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.” 6 Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn. 7 Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân.
Đáp ca: Tv 50,3-4.5-6a.12-13.14 và 17 (Đ. x. c.3a)
Đ.Lạy Chúa, xin rủ lòng xót thương,
vì chúng con đắc tội với Ngài.
3Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con,
mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm.4Xin rửa con sạch hết lỗi lầm
tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.
Đ.Lạy Chúa, xin rủ lòng xót thương,
vì chúng con đắc tội với Ngài.
5Vâng, con biết tội mình đã phạm,
lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm.6aCon đắc tội với Chúa, với một mình Chúa,
dám làm điều dữ trái mắt Ngài.
Đ.Lạy Chúa, xin rủ lòng xót thương,
vì chúng con đắc tội với Ngài.
12Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng,
đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ.13Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh,
đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài.
Đ.Lạy Chúa, xin rủ lòng xót thương,
vì chúng con đắc tội với Ngài.
14Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ,
và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con;17Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con,
cho con cất tiếng ngợi khen Ngài.
Đ.Lạy Chúa, xin rủ lòng xót thương,
vì chúng con đắc tội với Ngài.
Bài đọc 2: Rm 5,12-19
Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.
12 Thưa anh em, vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội. 13 Trước khi có Lề Luật, đã có tội lỗi ở trần gian. Nhưng nếu không có Luật, thì tội không bị kể là tội. 14 Thế mà, từ thời A-đam đến thời Mô-sê, sự chết đã thống trị cả những người đã không phạm tội bất tuân lệnh Thiên Chúa như A-đam đã phạm. A-đam là hình ảnh Đấng sẽ tới.
15 Nhưng sự sa ngã của A-đam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa. Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người. 16 Ơn Thiên Chúa ban cũng khác với hậu quả do một người phạm tội đã gây ra. Quả thế, vì một người duy nhất phạm tội, con người đã bị xét xử để phải mang án, còn sau nhiều lần sa ngã, thì lại được Thiên Chúa ban ơn cho trở nên công chính. 17 Nếu chỉ vì một người, một người duy nhất sa ngã, mà sự chết đã thống trị, thì điều Thiên Chúa làm qua một người duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, lại còn lớn lao hơn biết mấy. Quả vậy, những ai được Thiên Chúa ban ân sủng dồi dào và cho trở nên công chính, thì sẽ được sống và được thống trị.
18 Tóm lại, cũng như vì một người duy nhất đã sa ngã mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một người duy nhất đã thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống. 19 Thật vậy, cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính.
Tin mừng: Mt 4,1-11
1 Sau khi chịu phép rửa, Đức Giê-su được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ.
2 Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và sau đó, Người thấy đói.
3 Bấy giờ tên cám dỗ đến gần Người và nói: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hoá bánh đi!”
4 Nhưng Người đáp: “Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.”
5 Sau đó, quỷ đem Người đến thành thánh, và đặt Người trên nóc đền thờ, 6 rồi nói với Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi! Vì đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá.”
7 Đức Giê-su đáp: “Nhưng cũng đã có lời chép rằng: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.”
8 Quỷ lại đem Người lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy, 9 và bảo rằng: “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi.”
10 Đức Giê-su liền nói: “Xa-tan kia, xéo đi! Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi.”
11 Thế rồi quỷ bỏ Người mà đi, và có các sứ thần tiến đến hầu hạ Người.
Giáo lý cho bài giảng Chúa nhật 1 mùa Chay năm A
WHĐ (17/02/2026) – Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh thánh của lễ Chúa nhật 1 mùa Chay năm A theo sự theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích.
|
Số 394, 538-540, 2119: Chúa Giêsu chịu cám dỗ Số 2846-2849: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ” Số 385-390, 396-400: Sự sa ngã Số 359, 402-411, 615: Ông Ađam, Tội tổ tông, Đức Kitô – Ađam mới Bài Ðọc I: St 2, 7-9; 3, 1-7 Bài Ðọc II: Rm 5, 12-19 Phúc Âm: Mt 4, 1-11 |
Số 394, 538-540, 2119: Chúa Giêsu chịu cám dỗ
Số 394. Thánh Kinh chứng tỏ ảnh hưởng tai hại của kẻ mà Chúa Giêsu gọi là “tên sát nhân … ngay từ đầu” (Ga 8,44), nó cũng đã ra sức làm cho Chúa Giêsu đi trệch ra khỏi sứ vụ Người đã lãnh nhận nơi Chúa Cha[1]. “Con Thiên Chúa xuất hiện, là để phá hủy công việc của ma quỷ” (l Ga 3,8). Trong các hậu quả của các việc làm của ma quỷ, nghiêm trọng nhất là sự quyến rũ dối trá dẫn đưa con người đến chỗ bất tuân Thiên Chúa.
Số 538. Các sách Tin Mừng có nói đến một thời gian Chúa Giêsu sống cô tịch trong hoang địa, ngay sau khi Người nhận phép rửa của ông Gioan. “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa” (Mc 1,12) và Chúa Giêsu ở lại đó bốn mươi ngày không ăn; Người sống giữa các dã thú và các Thiên thần hầu hạ Người.[2] Cuối thời gian này, Satan cám dỗ Người ba lần nhằm đặt vấn đề về thái độ con thảo của Người đối với Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã đẩy lui các cuộc tấn công này, chúng thu tóm cơn cám dỗ của ông Ađam trong vườn địa đàng và những cơn cám dỗ của dân Israel trong hoang địa, rồi ma quỷ bỏ Người mà đi, “chờ đợi thời cơ” (Lc 4,l3).
Số 539. Các tác giả Tin Mừng nêu rõ ý nghĩa cứu độ của biến cố bí nhiệm này. Chúa Giêsu là Ađam mới, Người vững lòng trung thành ở chỗ Ađam cũ đã đầu hàng cơn cám dỗ. Chúa Giêsu thực hiện cách hoàn hảo ơn gọi của dân Israel: trái hẳn với những kẻ xưa kia đã thách thức Thiên Chúa suốt bốn mươi năm trong hoang địa[3], Chúa Giêsu được mạc khải như Người Tôi Trung của Thiên Chúa, hoàn toàn vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Trong việc này, Chúa Giêsu toàn thắng ma quỷ: Người đã trói kẻ mạnh và thu lại tài sản nó đã cướp[4]. Chiến thắng của Chúa Giêsu trước kẻ cám dỗ trong hoang địa báo trước chiến thắng của cuộc khổ nạn, là sự vâng phục tuyệt đối trong tình yêu con thảo của Người đối với Chúa Cha.
Số 540. Cám dỗ Chúa Giêsu phải chịu cho thấy cách thế Con Thiên Chúa là Đấng Messia, trái ngược hẳn điều Satan xúi giục Người và người ta muốn gán cho Người[5]. Chính vì thế, Đức Kitô chiến thắng Tên cám dỗ là chiến thắng cho chúng ta: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4,15). Mỗi năm, qua bốn mươi ngày Mùa Chay, Hội Thánh kết hợp với mầu nhiệm Chúa Giêsu trong hoang địa.
Số 2119. Hành động thử thách Thiên Chúa là dùng lời nói hay việc làm để thử sự tốt lành và sự toàn năng của Thiên Chúa. Đây là điều Satan muốn thấy nơi Chúa Giêsu, khi xúi giục Người gieo mình từ trên nóc Đền Thờ xuống, và qua cử chỉ đó, ép buộc Thiên Chúa phải hành động[6]. Chúa Giêsu dùng Lời Thiên Chúa đối lại nó: “Anh em đừng thách thức Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em” (Đnl 6,16). Thách đố, hàm chứa một sự thử thách như vậy, làm tổn thương lòng tôn kính và tin tưởng mà chúng ta phải dành cho Đấng Tạo Hoá và là Chúa của chúng ta. Thử thách Thiên Chúa luôn hàm chứa thái độ hoài nghi về tình yêu của Ngài, sự quan phòng và quyền năng của Ngài[7].
Số 2846-2849: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”
Số 2846. Lời cầu xin này xuất phát từ điều trước, vì tội lỗi của chúng ta là kết quả của sự ưng theo cám dỗ. Chúng ta xin Cha chúng ta đừng “dẫn” chúng ta vào cơn cám dỗ. Khó mà dịch kiểu nói Hy lạp bằng một từ: Nó có nghĩa là “đừng cho phép bước vào”[8], “đừng để chúng con sa chước cám dỗ”. “Thiên Chúa không thể bị cám dỗ làm điều xấu, và chính Ngài cũng không cám dỗ ai” (Gc 1,13), trái lại, Ngài muốn giải thoát chúng ta khỏi cơn cám dỗ. Chúng ta cầu xin Ngài đừng để ta đi vào con đường dẫn đến tội lỗi. Chúng ta đang ở trong cuộc chiến đấu “giữa xác thịt và Thần Khí”. Lời cầu xin này khẩn cầu Thần Khí cho chúng ta biết phân định và có sức mạnh.
Số 2847. Chúa Thánh Thần giúp chúng ta biết phân định đâu là thử thách, vốn cần thiết để con người nội tâm tăng trưởng[9] và nhằm “thử thách nhân đức”[10], và đâu là cám dỗ dẫn đến tội lỗi và sự chết[11]. Chúng ta còn phải biết phân định giữa “bị cám dỗ” và “thuận theo” cơn cám dỗ. Cuối cùng, phân định vạch trần sự dối trá của chước cám dỗ: bề ngoài, đối tượng có vẻ “ngon, trông đẹp mắt và đáng quý” (St 3,6), nhưng thật sự, kết quả của nó là sự chết.
“Thiên Chúa không muốn áp đặt điều tốt cho ai, nhưng muốn họ tự nguyện…. Hơn nữa, cám dỗ cũng có cái lợi. Ngoại trừ Thiên Chúa, không ai biết được những gì tâm hồn chúng ta đã lãnh nhận, kể cả chính chúng ta, những điều đó được bộc lộ ra nhờ các cơn cám dỗ, kẻo chúng ta vẫn không biết mình cách đúng nghĩa, nhưng khi đã biết mình, chúng ta sẽ nhận ra tình trạng tệ hại của mình, và chúng ta phải tạ ơn Chúa vì những ơn lành, được bộc lộ ra cho chung ta nhờ các cơn cám dỗ”[12].
Số 2848. Để khỏi sa chước cám dỗ, cần phải có một sự cương quyết của trái tim. “Kho tàng của anh ở đâu thì lòng anh ở đó…. Không ai có thể làm tôi hai chủ” (Mt 6,21.24). “Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước” (Gl 5,25). Trong việc “thuận theo” Chúa Thánh Thần như vậy, Chúa Cha sẽ ban cho chúng ta sức mạnh. “Không một cám dỗ nào đã xảy ra cho anh em mà lại vượt quá sức loài người. Thiên Chúa là Đấng trung tín: Ngài sẽ không để anh em bị cám dỗ quá sức; nhưng khi để anh em bị cám dỗ, Ngài sẽ cho kết thúc tốt đẹp, để anh em có sức chịu đựng” (1 Cr 10,13).
Số 2849. Cần phải cầu nguyện thì mới có thể chiến đấu và chiến thắng được. Chính nhờ việc cầu nguyện mà Chúa Giêsu chiến thắng tên Cám dỗ ngay từ buổi đầu[13], và trong cuộc chiến cuối cùng khi hấp hối[14]. Trong lời cầu xin này dâng lên Chúa Cha, Đức Kitô kết hợp chúng ta vào cuộc chiến đấu và cơn hấp hối của Người. Tâm hồn phải tỉnh thức, hiệp thông với sự tỉnh thức của Người, là điều không ngừng được nhắc đi nhắc lại[15]. Sự tỉnh thức là “kẻ canh giữ trái tim” và Chúa Giêsu xin Cha Người gìn giữ chúng ta trong Danh Cha[16]. Chúa Thánh Thần không ngừng hành động, để giúp chúng ta tỉnh thức[17]. Lời cầu xin này mang đầy ý nghĩa bi thảm khi nghĩ đến cơn cám dỗ cuối cùng của cuộc giao tranh trên đời này; lời cầu xin này xin ơn bền đỗ đến cùng. “Đây, Ta đến như kẻ trộm. Phúc thay kẻ đang canh thức” (Kh 16,15).
Số 385-390, 396-400: Sự sa ngã
Số 385. Thiên Chúa vô cùng tốt lành và mọi công trình của Ngài đều tốt đẹp. Tuy nhiên, không ai thoát được kinh nghiệm về đau khổ, về những sự dữ trong thiên nhiên – những sự dữ coi như gắn liền với những giới hạn riêng của các thụ tạo –, và nhất là vấn nạn về sự dữ luân lý. Sự dữ từ đâu đến? Thánh Augustinô nói: “Tôi đã tìm xem sự dữ từ đâu và không thấy câu giải đáp”[18], và cuộc tìm kiếm đau thương riêng của thánh nhân chỉ tìm được câu giải đáp lúc ngài hối cải trở về với Thiên Chúa hằng sống. Bởi vì “mầu nhiệm của sự gian ác” (2 Tx 2,7) chỉ được sáng tỏ dưới ánh sáng của mầu nhiệm đạo thánh[19]. Việc mạc khải tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Kitô đã biểu lộ tình trạng lan tràn của sự dữ và đồng thời sự đầy tràn chan chứa của ân sủng[20]. Vì vậy chúng ta phải xem xét vấn nạn về nguồn gốc của sự dữ với cái nhìn đức tin hướng về Đấng duy nhất đã chiến thắng sự dữ[21].
Thực tại của tội lỗi
Số 386. Tội lỗi hiện diện trong lịch sử loài người: Thật là vô ích khi tìm cách làm ngơ hoặc gán những cái tên khác cho thực tại tăm tối đó. Muốn hiểu tội là gì, trước hết phải nhận biết mối liên hệ thâm sâu của con người với Thiên Chúa, bởi vì ngoài mối tương quan đó, chúng ta không thể khám phá ra ác tính của tội lỗi trong căn tính đích thực của nó, là chối bỏ và chống đối Thiên Chúa, cho dù tội lỗi vẫn đè nặng trên đời sống con người và trên lịch sử.
Số 387. Thực tại của tội lỗi, và cách riêng của tội tổ tông, chỉ được làm sáng tỏ dưới ánh sáng của mạc khải Thiên Chúa. Không nhận biết điều mạc khải đem lại cho chúng ta về Thiên Chúa, chúng ta không thể biết rõ tội lỗi là gì, và bị cám dỗ muốn giải thích tội lỗi như một khiếm khuyết trong quá trình tăng trưởng, như một yếu kém về tâm lý, một sai lầm, một hậu quả tất yếu của một cơ cấu xã hội thoái hoá, v.v…. Chỉ khi nào nhận biết được kế hoạch của Thiên Chúa về con người, người ta mới hiểu rằng tội lỗi là lạm dụng sự tự do, vốn được Thiên Chúa ban cho các ngôi vị được tạo dựng để họ có thể yêu mến Ngài và yêu mến nhau.
Tội tổ tông – một chân lý căn bản của đức tin
Số 388. Thực tại của tội lỗi cũng được làm sáng tỏ cùng với sự tiến triển của mạc khải. Mặc dầu dân Thiên Chúa thời Cựu Ước đã biết đến thân phận đau thương của con người dưới ánh sáng của việc sa ngã được thuật lại trong sách Sáng Thế, họ vẫn không thể nắm bắt được ý nghĩa tối hậu của việc sa ngã đó, ý nghĩa tối hậu này chỉ được biểu lộ dưới ánh sáng của cái Chết và sự Sống lại của Chúa Giêsu Kitô[22]. Cần phải nhận biết Đức Kitô là nguồn mạch của ân sủng, thì mới nhận ra ông Ađam là nguồn gốc của tội lỗi. Thần Khí bào chữa, do Đức Kitô phục sinh sai đến, đã đến tố cáo “thế gian sai lầm về tội lỗi” (Ga l6,8), khi Ngài mạc khải Đức Kitô là Đấng cứu chuộc trần gian.
Số 389. Giáo lý về tội tổ tông, có thể nói được, là “mặt trái” của Tin Mừng này: Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ của tất cả mọi người, mọi người đều cần ơn cứu độ, và ơn cứu độ được ban cho mọi người nhờ Đức Kitô. Hội Thánh, người có cảm thức về Đức Kitô[23], biết rằng không thể công kích mạc khải về tội tổ tông mà không xúc phạm đến mầu nhiệm Đức Kitô.
Để hiểu trình thuật về sự sa ngã
Số 390. Trình thuật về sự sa ngã (St 3) sử dụng kiểu nói hình tượng, nhưng xác quyết một sự kiện thuở đầu, đã xảy ra vào lúc khởi đầu lịch sử nhân loại[24]. Mạc khải cho chúng ta sự chắc chắn của đức tin rằng toàn bộ lịch sử nhân loại đều mang dấu tích của tội tổ tông, do nguyên tổ chúng ta đã phạm một cách tự do[25].
Thử thách sự tự do
Số 396. Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài và cho họ sống trong tình bằng hữu với Ngài. Là một thụ tạo tinh thần, con người chỉ có thể sống trong tình bằng hữu đó bằng cách tự do suy phục Thiên Chúa. Điều đó được diễn tả trong lệnh cấm con người không được ăn trái của cây cho biết điều thiện, điều ác, “vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết” (St 2,l7). “Cây cho biết điều thiện điều ác” (St 2,l7) là một biểu tượng diễn tả ranh giới không thể vượt qua mà con người, trong tư cách là thụ tạo, phải nhìn nhận một cách tự do và tôn trọng một cách tin tưởng. Con người lệ thuộc Đấng Tạo Hoá; nó phải quy phục các định luật của công trình tạo dựng và các quy tắc luân lý quy định việc sử dụng sự tự do.
Tội đầu tiên của con người
Số 397. Con người, bị ma quỷ cám dỗ, đã dập tắt trong trái tim mình lòng tin tưởng đối với Đấng Tạo Hoá của mình[26], và lạm dụng sự tự do của mình, đã bất tuân mệnh lệnh của Thiên Chúa. Đó là tội đầu tiên của con người[27]. Mọi tội lỗi sau đó đều là bất tuân Thiên Chúa và thiếu tin tưởng vào lòng nhân hậu của Ngài.
Số 398. Trong tội này, con người đã chọn mình hơn Thiên Chúa và qua đó đã khinh thường Thiên Chúa: con người đã chọn chính bản thân chống lại Thiên Chúa, chống lại những đòi buộc của thân phận thụ tạo của mình, và do đó chống lại cả lợi ích riêng của mình. Con người, được tạo dựng trong tình trạng thánh thiện, được Thiên Chúa nhắm cho nó được “thần hóa” trọn vẹn trong vinh quang. Do ma quỷ cám dỗ, con người đã muốn trở nên “như Thiên Chúa”[28] mà “không cần Thiên Chúa, vượt qua Thiên Chúa, và không theo Thiên Chúa”[29].
Số 399. Thánh Kinh cho thấy những hậu quả bi đát của sự bất tuân đầu tiên đó. Ông Ađam và bà Evà đã lập tức đánh mất sự thánh thiện nguyên thủy[30]. Họ đâm ra sợ hãi Thiên Chúa[31], vì họ đã tạo ra một hình ảnh sai lầm về Ngài, hình ảnh của một vị Thần ham hố các đặc quyền của mình[32].
Số 400. Sự hài hoà mà tổ tông đang hưởng nhờ sự công chính nguyên thuỷ, đã bị phá hủy; quyền điều khiển của các khả năng tinh thần của linh hồn trên thể xác đã bị đập tan[33]; sự kết hợp của người nam và người nữ trở nên căng thẳng[34]; những liên hệ giữa họ bị đánh dấu bằng ham muốn và thống trị[35]. Sự hài hòa với công trình tạo dựng bị phá vỡ: thế giới hữu hình trở nên xa lạ và thù nghịch với con người[36]. Vì con người, muôn loài đã phải lệ thuộc vào cảnh hư nát[37]. Cuối cùng, hậu quả đã được báo trước cách minh nhiên đối với tội bất tuân[38], nay thành hiện thực: con người từ tro bụi sẽ trở về bụi tro[39]. Sự chết đã xâm nhập vào lịch sử nhân loại[40].
Số 359, 402-411, 615: Ông Ađam, Tội tổ tông, Đức Kitô – Ađam mới
Số 359. “Quả thật, chỉ trong mầu nhiệm của Ngôi Lời Nhập Thể, mà mầu nhiệm về con người mới thật sự được sáng tỏ”[41]:
“Thánh Phaolô cho chúng ta biết có hai người là nguồn gốc của nhân loại, là ông Ađam và Đức Kitô…. Ađam đầu tiên được tạo dựng là một người lãnh nhận sự sống. Còn Ađam cuối cùng là Đấng thiêng liêng ban sự sống. Người đầu tiên được tạo dựng bởi Đấng cuối cùng, do Đấng này, người đầu tiên lãnh nhận linh hồn để được sống…. Khi tạo dựng Ađam đầu tiên, Ađam cuối cùng đã khắc ghi hình ảnh mình trong đó. Từ đó Ađam cuối cùng đã nhận lấy vai trò và tên gọi của Ađam đầu tiên, để không bỏ mất những gì đã được tạo dựng theo hình ảnh của mình. Ađam đầu tiên, Ađam cuối cùng: Ađam đầu tiên có khởi đầu, Ađam cuối cùng không có kết thúc, bởi vì Đấng cuối cùng này mới thật sự là Đấng đầu tiên, như chính Người đã nói: ‘Ta là Đầu và là Cuối’”[42].
Số 402. Mọi người đều bị liên lụy với tội Ađam. Thánh Phaolô khẳng định: “Vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân” (Rm 5,l9), muôn người ở đây có nghĩa là mọi người: “Vì một người duy nhat, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội” (Rm 5,l2). Đối lại tính phổ quát của tội lỗi và sự chết, thánh Tông Đồ nêu lên tính phổ quát của ơn cứu độ trong Đức Kitô: “Cũng như vì một người duy nhất đã sa ngã mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một người duy nhất đã thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống” (Rm 5,l8).
Số 403. Noi theo thánh Phaolô, Hội Thánh luôn dạy rằng tình trạng cùng khốn đang đè nặng lên con người, cũng như việc họ hướng chiều về sự dữ và về sự chết là những điều không thể hiểu được, nếu không xét đến mối liên hệ của chúng với tội Ađam và với việc ông đã truyền lại cho chúng ta một tội mà mọi người chúng ta phải mang lấy từ khi sinh ra, và tội này là “cái chết của linh hồn”[43]. Dựa trên sự chắc chắn này của đức tin, Hội Thánh ban phép Rửa Tội để tha tội cho cả những trẻ em chưa từng phạm tội riêng[44].
Số 404. Tội Ađam đã trở nên tội của tất cả dòng dõi của ông như thế nào? Toàn thể nhân loại đều ở trong Ađam “như một thân thể duy nhất của một con người duy nhất”[45]. Do “tính thống nhất” này của nhân loại, mọi người đều bị liên lụy với tội Ađam, cũng như mọi người đều được thông phần vào sự công chính của Đức Kitô. Dẫu sao, việc lưu truyền tội tổ tông là một mầu nhiệm mà chúng ta không thể hiểu cách đầy đủ. Nhưng nhờ mạc khải, chúng ta biết ông Ađam đã nhận được sự thánh thiện và công chính nguyên thuỷ không phải chỉ cho riêng ông, nhưng cho toàn thể bản tính nhân loại: Khi nghe theo Tên Cám Dỗ, ông Ađam và bà Evà đã phạm một tội cá nhân, nhưng tội đó ảnh hưởng đến bản tính nhân loại, một bản tính mà họ sẽ lưu truyền trong tình trạng đã sa ngã[46]. Đó là một tội được lưu truyền cho toàn thể nhân loại qua việc sinh sản, nghĩa là qua việc lưu truyền một bản tính nhân loại đã mất sự thánh thiện và công chính nguyên thuỷ. Do đó, tội tổ tông được gọi là “tội” theo nghĩa loại suy: đó là một thứ tội con người bị “nhiễm” chứ không phải đã “phạm”; một tình trạng, chứ không phải một hành vi.
Số 405. Tội tổ tông, mặc dầu truyền đến mỗi người[47], nhưng không hề mang tính cách một tội của bản thân nơi bất kỳ ai trong con cháu ông Ađam. Không còn sự thánh thiện và sự công chính nguyên thuỷ, nhưng bản tính nhân loại không hoàn toàn bị huỷ hoại: bản tính nhân loại bị thương tật trong các sức lực tự nhiên riêng của mình, u mê dốt nát, phải chịu đau khổ, bị sự chết thống trị, và hướng chiều về tội lỗi (sự hướng chiều về điều xấu được gọi là dục vọng: concupiscentia). Bí tích Rửa Tội, khi ban cho con người đời sống ân sủng của Chúa Kitô, xóa bỏ tội tổ tông và đưa con người trở về cùng Thiên Chúa, nhưng những hậu quả của tội tổ tông trên bản tính, đã bị suy yếu và hướng chiều về điều xấu, vẫn tồn tại nơi con người và kêu gọi con người vào cuộc chiến đấu thiêng liêng.
Số 406. Giáo lý của Hội Thánh về sự lưu truyền tội tổ tông đã được xác định cách đặc biệt vào thế kỷ V, chủ yếu là dưới ảnh hưởng sự quan tâm của thánh Augustinô chống lại chủ thuyết của ông Pêlagiô, và vào thế kỷ XVI, chống lại cuộc Cải Cách của những người thệ phản. Ông Pêlagiô chủ trương rằng, bằng sức mạnh tự nhiên của ý chí tự do, không cần sự trợ giúp của ân sủng, con người vẫn có thể sống tốt lành về mặt luân lý; như vậy, ông này giản lược ảnh hưởng của tội Ađam thành ảnh hưởng của một gương xấu. Trái lại, những nhà Cải Cách thệ phản đầu tiên chủ trương rằng, vì tội tổ tông, con người đã bị hư hỏng hoàn toàn và con người không còn sự tự do; họ đồng hóa tội mà mỗi người lãnh nhận do lưu truyền với sự nghiêng chiều về sự dữ (dục vọng), một sự nghiêng chiều không thể cưỡng lại được. Hội Thánh đã tuyên bố về ý nghĩa của mạc khải liên quan đến tội tổ tông, đặc biệt tại Công đồng Arausicanô II năm 529[48], và tại Công đồng Triđentinô năm 1546[49].
Một cuộc chiến cam go
Số 407. Giáo lý về tội tổ tông, gắn liền với giáo lý về ơn Cứu chuộc nhờ Đức Kitô, mang lại cho ta một cái nhìn để phân định sáng suốt về tình trạng của con người và hành động của họ ở trần gian. Vì tội tổ tông, ma quỷ đã có được một quyền thống trị nào đó trên con người, mặc dầu con người vẫn còn tự do. Tội tổ tông khiến con người “bị cầm giữ dưới quyền của kẻ nắm quyền thống trị của sự chết, tức là ma quỷ”[50]. Nếu không biết rằng bản tính nhân loại đã bị tổn thương, bị nghiêng chiều về sự dữ, người ta có thể mắc những sai lầm nghiêm trọng trong các lãnh vực giáo dục, chính trị, hoạt động xã hội[51] và luân lý.
Số 408. Các hậu quả của tội tổ tông và của tất cả các tội cá nhân của con người đã đưa trần gian, trong tổng thể của nó, vào một tình trạng tội lỗi mà thánh Gioan đã gọi bằng kiểu nói: “tội trần gian” (Ga l,29). Kiểu nói nay cũng được dùng để nêu lên ảnh hưởng tiêu cực mà các thoả thuận tập thể và các cơ cấu xã hội, là hoa trái của tội lỗi con người, áp đặt lên các nhân vị[52].
Số 409. Hoàn cảnh bi đát như vậy của trần gian, đang “nằm dưới ách thống trị của Ác thần” (1 Ga 5,19)[53] làm cho đời sống con người trở thành một cuộc chiến đấu:
“Toàn bộ lịch sử của nhân loại là lịch sử của cuộc chiến cam go chống lại quyền lực của sự dữ, khởi đầu ngay từ lúc bình minh của lịch sử và sẽ kéo dài đến ngày cuối cùng như lời Chúa phán. Nằm giữa cuộc chiến này, con người phải luôn luôn chiến đấu để gắn bó với điều thiện hảo và chỉ sau khi hết sức cố gắng và với sự trợ giúp của ơn Chúa, con người mới đạt được sự thống nhất nội tâm”[54].
Số 410. Sau khi sa ngã, con người không bị Thiên Chúa bỏ rơi. Trái lại, Thiên Chúa gọi con người[55] và, một cách bí nhiệm, loan báo cho con người cuộc chiến thắng trên sự dữ và việc nâng con người sa ngã dậy[56]. Đoạn này trong sách Sáng Thế được gọi là “Tiền Tin Mừng” bởi vì đó là lời loan báo đầu tiên về Đấng Messia Cứu Chuộc, về cuộc chiến đấu giữa con rắn và Người Nữ, và về chiến thắng chung cuộc của một hậu duệ Người Nữ này.
Số 411. Truyền thống Kitô giáo nhận ra trong đoạn này lời tiên báo một vị “Ađam mới”[57], Đấng đã lấy sự “vâng lời cho đến chết… trên thập giá” (Pl 2,8) của mình, mà sửa lại một cách đầy tràn chan chứa tội bất tuân của ông Ađam[58]. Đàng khác, nơi Người Nữ được tiên báo trong Tiền Tin Mừng, nhiều Giáo phụ và tiến sĩ Hội Thánh nhận ra Đức Maria, Mẹ Đức Kitô, như là một bà “Evà mới”. Đức Maria là người đầu tiên và theo một cách thế độc nhất vô nhị, được thừa hưởng chiến thắng của Đức Kitô trên tội lỗi: Bà được gìn giữ khỏi mọi vết nhơ của tội tổ tông[59] và trong suốt cuộc đời trần thế của mình, nhờ ân sủng đặc biệt của Thiên Chúa, Bà đã không hề phạm một tội nào[60].
Chúa Giêsu đền thay sự bất tuân của chúng ta bằng sự vâng phục của Người
Số 615. “Cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính” (Rm 5,19). Chúa Giêsu, bằng sự vang phục cho đến chết của Người, đã hoàn thành việc đền thay của Người Tôi trung đau khổ, là hiến thân làm hy lễ đền tội, mang lấy tội lỗi của muôn người và làm cho họ nên công chính khi gánh lấy tội lỗi của họ[61]. Chúa Giêsu đã đền bù các lỗi lầm của chúng ta và tạ tội với Chúa Cha vì tội lỗi của chúng ta[62].
Bài giảng Đức Thánh Cha – Chúa nhật 1 mùa Chay năm A
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 1 mùa Chay năm A (01/3/2020) – Đừng bao giờ trò chuyện với ma quỷ
Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 1 mùa Chay năm A (10/02/2008) – Cuộc chiến đấu thiêng liêng
Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)
Suy niệm: Ðức Giêsu được Thánh Thần dẫn vào sa mạc để chịu ma quỷ cám dỗ. Ðã là người có tự do và trách nhiệm, nên phải lựa chọn, và đó chính là những thử thách. Cơn thử thách của Ðức Giêsu nhắm đẩy Ngài đi trái ý Thiên Chúa Cha. Thiên Chúa Cha muốn Ngài thực hiện ơn cứu độ bằng con đường khổ nạn. Cơn cám dỗ lại xúi bẩy Ngài tỏ uy quyền vinh quang của Thiên Chúa. Nhưng tất cả các mưu chước của sa tan đều bị Ðức Giêsu đánh gục. Ðức Giêsu đã khiêm hạ sống thân phận tự hủy để ý Cha được nên trọn.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã khiêm hạ sống trọn kiếp người như chúng con. Chúa cũng muốn trải qua những thử thách để cảm thông và trao kinh nghiệm chiến thắng cho chúng con. Gương của Chúa dạy chúng con: Muốn thắng cám dỗ, chúng con phải cầu nguyện. Muốn thắng cám dỗ, chúng con phải dùng lời Chúa. Muốn thắng cám dỗ, chúng con phải nhờ sức mạnh của Thiên Chúa. Xin Chúa giúp chúng con làm trọn ý Thiên Chúa Cha. Amen.
Ghi nhớ: “Chúa Giêsu nhịn ăn bốn mươi ngày đêm, và chịu cám dỗ”.
Suy niệm (Lm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân)
CHIA SẺ LỜI CHÚA
1. Bài đọc 1 : St 2,7-9 ; 3,1-7
Nhân dịp nghe lại bài đọc 1 trích từ sách Sáng thế, quyển sách đầu tiên của Kinh Thánh, kể lại việc Chúa tạo dựng con người và việc con người sa ngã phạm tội, thể theo ý kiến của nhiều người, tôi muốn mời anh chị em tìm hiểu kỹ hơn về các chương đầu của sách Sáng thế với ba chủ đề sau đây, để anh chị em có thể hiểu đúng ý nghĩa của bản văn Kinh Thánh.
1) Thiên Chúa tạo dựng muôn loài
Mười một chương đầu sách Sáng thế, nhất là các chương 1 đến 3, nhằm trả lời những câu hỏi ngàn đời của con người về những điểm rất căn bản như : Vũ trụ và con người bởi đâu mà có ? Con người là gì ? Tại sao có đau khổ ? Loài người còn có hy vọng nào không ?
Trước hết, sách Sáng thế 1,1–2,4a nói về việc Thiên Chúa tạo dựng muôn loài. Bản văn trình bày việc tạo dựng vũ trụ hoàn thành trong sáu ngày, để đề cao ngày thứ bảy. Trong dân Ít-ra-en có luật làm việc sáu ngày và nghỉ ngày thứ bảy (ngày sa-bát : Xh 20,8-11). Tác giả đoạn văn cũng lấy khuôn khổ một tuần lễ để trình bày việc tạo dựng, và như vậy có ý lấy hoạt động của Thiên Chúa làm gương mẫu cho công việc của con người. Sáu ngày tạo dựng chia làm hai đợt song song, mỗi đợt ba ngày : đợt đầu là “công trình phân biệt” tạo nên những khu vực cố định : sáng – tối ; nước phía dưới – nước phía trên ; biển – đất, cây cối ; đợt sau là “công trình trang trí” : mặt trời – mặt trăng, ngôi sao ; cá – chim ; thú vật – người.
Như vậy các chương này là một suy tư thần học về vũ trụ và định mệnh con người, chứ không phải là một thiên phóng sự, một bài nghiên cứu khoa học, một trang lịch sử nhằm thuật lại sự việc đúng như đã xảy ra. Đây là một lời tuyên xưng đức tin, một bài giáo huấn có mục đích dạy rằng Thiên Chúa là nguồn gốc muôn loài. Giáo huấn này thời nào cũng có giá trị, còn cách hình dung vũ trụ thì lệ thuộc vào những quan niệm bình dân thời xưa.
Như vậy, Sáng thế 1,1–2,4a là một bài giáo huấn về Thiên Chúa, về vạn vật và về con người.
1.1) Về Thiên Chúa : Thiên Chúa là Đấng duy nhất, siêu việt, vẫn có từ trước muôn loài. Thiên Chúa tạo dựng muôn loài do quyền năng, bằng lời, cách dễ dàng và sắp đặt muôn loài cách khôn ngoan. Thiên Chúa làm Chủ muôn loài.
1.2) Về vạn vật : Muôn loài đều do Thiên Chúa và đều tốt. Do đó, đoạn văn gián tiếp dạy : sự dữ không phải do Thiên Chúa. Các loài cũng được Thiên Chúa ban cho khả năng tiếp tục việc tạo dựng.
1.3. Về con người : Con người là chóp đỉnh của việc tạo thành. Khác với mọi loài, con người là hình ảnh của Thiên Chúa, nghĩa là thuộc giới linh thiêng và do đó được đại diện Thiên Chúa làm chủ muôn loài, nghĩa là có quyền sử dụng muôn loài theo ý Thiên Chúa. Việc phân biệt nam nữ tính và truyền sinh cũng ở trong chương trình của Thiên Chúa. Nam nữ bình đẳng vì cả hai cùng ở trong định nghĩa của chữ “người”.
2. Thiên Chúa tạo dựng con người (St 2,4b-25)
“Thiên Chúa tạo dựng con người” (2,7). Đây là một câu quan trọng, dùng hình ảnh để nói lên những ý niệm :
Thiên Chúa nắn nên con người. Thần thoại miền Lưỡng Hà ở Trung Đông cũng nói thần minh lấy đất nắn thành người. Tác giả Kinh Thánh mượn hình ảnh này để nói : Cũng như đồ gốm tuỳ tay thợ gốm, con người là gì thì hoàn toàn tuỳ ở ý Thiên Chúa.
Thiên Chúa lấy bụi đất mà làm ra con người. Trong tiếng Híp-ri, chữ a-đam (người) và a-đa-ma (đất) gần giống nhau. Vì thế tác giả hình dung người làm bằng đất để nói rằng : bản chất con người là mỏng giòn, yếu đuối và con người có liên hệ mật thiết với đất.
Thiên Chúa thở hơi vào sống mũi. Theo nhận xét thông thường, có thể xem hơi thở qua lỗ mũi mà biết ai còn sống hay đã chết. Do đó tác giả hình dung lỗ mũi như cái cửa qua đó Thiên Chúa ban sự sống : con người là bụi đất, nhưng sự sống là do Thiên Chúa ban cho.
Như vậy, tác giả mô tả Thiên Chúa làm một việc cụ thể, nhưng tác giả không có ý nói con người được làm nên cách nào, mà nói con người là gì : con người là bởi Thiên Chúa, xét về thể chất, con người có liên lạc với đất ; xét là loài có sự sống, con người gần với Thiên Chúa Hằng Sống.
Cử chỉ Thiên Chúa lấy đất nắn và thổi hơi là một “kiểu nói như nhân”, mà ta sẽ gặp nhiều lần trong Cựu Ước. Đó là những kiểu nói hình dung và mô tả Thiên Chúa như con người ! Người có tay, chân, tai, mắt, để làm, để đi, để nghe, để nhìn … Người lại còn buồn, giận, ghét, yêu thích, nhớ lại, hối hận nữa. Thời Cựu Ước, người ta vẫn biết Thiên Chúa không phải là người, nhưng người ta vẫn dùng những kiểu nói đó để chỉ rằng Thiên Chúa không phải là một ý niệm trừu tượng, nhưng là một hữu thể, một Đấng luôn luôn sống và hành động. Chính chúng ta ngày nay cũng không thể hoàn toàn tránh được những kiểu nói như nhân về Thiên Chúa. Hơn nữa, nếu bỏ hẳn những kiểu nói đó sẽ làm cho ta quan niệm Thiên Chúa bớt sống động và trở nên xa lạ đối với ta.
Thiên Chúa tạo cho con người một khu vực sống. Sau khi đã tạo dựng con người, Thiên Chúa còn lo cho có một khu vực để sinh sống : đó là vườn Ê-đen (vườn địa đàng) với đủ điều kiện : có nhiều thứ cây mà con người có thể dùng, có nhiều nước (từ vườn có một con sông với bốn nhánh lớn chảy ra), nên phì nhiêu và thuận tiện cho việc trồng trọt. Tuy nhiên, con người được đặt vào vườn không phải để ở không và làm theo ý riêng, vì phải làm và giữ vườn, như một người quản lý cho Thiên Chúa, và phải tuân theo ý muốn của Thiên Chúa biểu lộ trong lệnh cấm ăn trái cây biết lành biết dữ.
Thiên Chúa tạo cho con người một kẻ giúp đỡ tương xứng. Thiên Chúa dựng nên người nữ. Ở đây có hai ý chính : người nữ thuộc cùng một loài, một bản tính với người nam. Trong tiếng Híp-ri, chữ ishsha (đàn bà, vợ) giống chữ ish (đàn ông, chồng) và như thể bởi ish mà ra. Đàng khác lại có kiểu nói “người nọ bởi xương, bởi thịt của người kia” để chỉ hai người đó họ hàng ruột thịt với nhau. Do đó khi tác giả hình dung Thiên Chúa lấy một cái gì đó của người nam để làm nên người nữ, ông có ý nói : cả hai cùng một loài với nhau và rất thân thiết với nhau. Người nam và người nữ có khuynh hướng đến với nhau. Khuynh hướng này cũng là do ý Thiên Chúa. Cả hai trở nên một trong hôn nhân và trong con cái, là cái gì chung của cả hai.
Cám dỗ và sa ngã. Con rắn tượng trưng cho một quyền lực ác cám dỗ con người để phá vỡ hạnh phúc của họ, đó là Xa-tan. Phương pháp của nó rất khéo léo : nó hỏi bâng quơ, nhưng một trật cũng xuyên tạc ý Thiên Chúa, dường như Người cấm ăn mọi thứ trái cây. Sau câu trả lời của người nữ, con rắn nói dối cách quả quyết : “Chẳng chết chóc gì đâu”, nó gây sự nghi ngờ, hiểu lầm về Thiên Chúa, sự quyến rũ dần dần mạnh lên, bà E-và thấy trái đẹp, ngon, nên hái, ăn và cho chồng mình cùng ăn.
Hậu quả đầu tiên của tội. Họ tưởng mình sẽ biết lành biết dữ như Xa-tan cám dỗ, thì hoàn toàn không phải như vậy, họ chỉ nhận biết mình yếu đuối, chẳng có gì cả. Một trật, tội lỗi gây ra sự đổ vỡ trong con người, làm mất thế quân bình và hoà hợp nơi họ, họ không làm chủ được mình nữa, do đó họ cảm thấy hổ thẹn trước mặt nhau … Tội phá đổ trật tự căn bản giữa con người với Thiên Chúa, làm mất sự hoà hợp của con người với Thiên Chúa, do đó gây nên những lộn xộn khác, mất hoà hợp với bản thân, mất hoà hợp với thiên nhiên. Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn còn thương yêu con người trong lời tuyên án phạt con rắn : “Ta sẽ gây mối thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy, dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3,15). Câu này được gọi là “Tin Mừng thứ nhất” bởi vì, ngay sau khi ông bà nguyên tổ phạm tội đáng phạt, Thiên Chúa đã mở cho một chân trời hy vọng. Người Ki-tô hữu biết rằng lời hứa này đã được thực hiện đầy đủ nơi Chúa Ki-tô, cũng là con cái loài người, và trong chiến thắng này, Mẹ của Người là Đức Ma-ri-a cũng có dự phần.
2. Đáp ca : Tv 50
1) Thánh vịnh 50 là một thánh vịnh sám hối, được gán cho vua Đa-vít sau khi ông ngoại tình với bà Bát-xơ-va, vợ tướng U-ri-a và giết chết viên tướng này. Thật ra, thánh vịnh 50 đã được sáng tác vào thời dân Ít-ra-en bị lưu đày bên Ba-by-lon, như tiếng dội lại những lời sấm của ngôn sứ Giê-rê-mi-a : “Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta” (Gr 31,33) và ngôn sứ Ê-dê-ki-en : “Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi” (Ed 36,26).
Một số câu trích thánh vịnh 50 cho phép ta vạch ra một hành trình sám hối trong mùa Chay thánh này :
“Lạy Thiên Chúa,
xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm,
tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm.
Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài.
Lạy Chúa Trời,
xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ.
Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài.
Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con ;
lạy Chúa Trời, xin mở miệng con, cho con cất tiếng ngợi khen Ngài.”
3. Bài đọc 2 : Rm 5,12-19
Bài đọc 2 hôm nay so sánh Đức Ki-tô với tổ phụ A-đam và cho thấy Đức Ki-tô trổi vượt tổ phụ A-đam. Ông A-đam là căn nguyên của tội lỗi, Đức Ki-tô là nguồn mạch sự sống và ơn được nên công chính. Bài đọc 2 đưa ra một loạt những đối chọi giữa hai nhân vật A-đam và Đức Giê-su : tội của ông A-đam, ân sủng của Đức Giê-su ; án xử đưa đến án phạt, ân sủng ban cho được nên công chính ; tội của ông A-đam làm cho sự chết thống trị ; ơn được nên công chính cho những ai đã lãnh nhận được ân sủng ; tội của một người sinh ra án phạt, việc làm của một người đem lại ơn được nên công chính ; sự bất tuân tạo ra các tội nhân, sự tuân phục tạo nên những người công chính.
4. Bài Tin Mừng : Mt 4,1-11
1) Bài Tin Mừng hôm nay kể lại việc Chúa Giê-su chịu cám dỗ. Người sống lại kinh nghiệm của dân Ít-ra-en xưa trên núi Xi-nai (Đnl 8,2-4 ; Ds 14,34) vì Chúa Giê-su là Mô-sê mới, lãnh đạo cuộc Xuất hành mới. Hơn nữa, Người còn là hiện thân của Ít-ra-en mới. Có điều Người khác với dân Ít-ra-en xưa ở chỗ Người đã trải qua các cơn thử thách mà vẫn trung thành với chức năng và ơn gọi của mình.
Đã làm người, người tự do và có trách nhiệm, tất nhiên Chúa Giê-su phải bị thử thách, nghĩa là phải lựa chọn. Bản văn ở đây nói rõ : Thánh Thần dẫn Chúa Giê-su vào hoang địa để chịu quỷ cám dỗ, nghĩa là đặt Chúa Giê-su vào một hoàn cảnh để Người tự khẳng định và chứng tỏ thái độ làm Con Thiên Chúa. Thật ra, Chúa Giê-su không chỉ bị cám dỗ như một con người, mà đặc biệt như Vị Mê-si-a. Chính ma quỷ cũng để lộ ý đồ của nó trong nghi vấn : “Nếu ông là Con Thiên Chúa”.
Chúa Giê-su ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày như ông Mô-sê xưa : “Khi lên núi để nhận các bia đá, những tấm bia Giao ước mà Đức Chúa đã lập với anh em, tôi đã ở trên núi bốn mươi ngày bốn mươi đêm, không ăn bánh, không uống nước” (Đnl 9,9.18).
“Nếu ông là Con Thiên Chúa” : tước hiệu này thuộc nội dung các lời hứa về Vua Mê-si-a con Đa-vít. Các lời trích Sách Thánh cho ta thấy ba cơn cám dỗ Chúa Giê-su phải chịu gợi lại ba cuộc thử thách dân Ít-ra-en xưa đã trải qua trong sa mạc và họ đã vấp ngã. Điều này ám chỉ Chúa Giê-su mang trong mình ơn gọi của dân Ít-ra-en mới, là Giáo Hội, và trong Người, Giáo Hội chiến thắng Xa-tan.
Cơn cám dỗ về bánh ăn. “Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập” (Mt 2,15 lấy lại lời ngôn sứ Hô-sê 1,1). Khi chịu phép rửa bởi ông Gio-an tại sông Gio-đan, Chúa Giê-su đã lãnh nhận Thánh Thần hướng dẫn Người vào sa mạc, như “cột mây” đã hướng dẫn dân Ít-ra-en suốt bốn mươi năm hành trình qua sa mạc trong thiếu thốn cùng cực nhưng thừa mứa những lời trách móc, và được Chúa ban cho man-na dư dật để no lòng. Chúa Giê-su chiến thắng cơn cám dỗ này khi lấy lại lời cảnh báo của sách Đệ nhị luật : “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” Chúng ta vẫn nhớ việc Chúa Giê-su làm phép lạ nuôi sống nhiều ngàn người đang đói trong sa mạc, nhưng Chúa Giê-su dạy ta phải xin lương thực hằng ngày, vật chất cũng như tinh thần. Chúa Giê-su không làm phép như quỷ cám dỗ. Sứ mạng của Người là công bố Lời hằng sống của Cha Người.
Cơn cám dỗ ở đền thờ. Trên nóc đền thờ, tên cám dỗ đề nghị Chúa Giê-su gieo mình xuống, như thế là thử thách Thiên Chúa theo thánh vịnh 90/91 : “Bởi chưng Người truyền cho thiên sứ giữ gìn bạn trên khắp nẻo đường, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng cho bạn khỏi vấp chân vào đá.” Chúa Giê-su trích sách Đệ nhị luật để đối lại tên cám dỗ : “Anh em đừng thách thức Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, như anh em đã thách thức ở Ma-xa” (Đnl 6,16). Lời của tên cám dỗ nói với Đức Giê-su giống như lời các kinh sư và mấy người Pha-ri-sêu muốn Chúa Giê-su làm dấu lạ (Mt 12,38) hay xin Người cho thấy một dấu lạ từ trời (Mt 16,1), nghĩa là họ muốn Chúa Giê-su làm phép lạ theo ý họ muốn. Trên đồi Can-vê, kẻ qua người lại đều nhục mạ Chúa Giê-su. Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Người mà nói : “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Ít-ra-en ! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền.”
Cơn cám dỗ về quyền lực. Cơn cám dỗ diễn ra trên núi cao, nhắc lại việc ông Mô-sê cũng đã thấy tất cả miền đất hứa từ đỉnh núi Nê-bô. Xa-tan tự cho mình là Thủ lãnh của thế gian, người nắm trọn mọi quyền bính trong tay. Trong sách Khải huyền ở chương 13,2 kể lại việc con Mãng Xà ban quyền cho Con Thú, hai Con Thú này là công cụ của Xa-tan. “Con Thú tôi trông thấy thì giống như con báo, chân nó như chân gấu, mõm như mõm sư tử. Con Mãng Xà ban cho nó quyền năng và ngai báu của mình cũng như một quyền hành lớn lao.” “Xa-tan, lui lại đằng sau Thầy.” Lời Chúa Giê-su quở trách ông Phê-rô khi ông can gián Chúa lúc Chúa báo trước cuộc Thương Khó của Người : “Xa-tan, lui ra đằng sau Ta.” Đây cũng là lời cuối cùng của cha Jacques Hamel, vào ngày 26-7-2016, khi hai kẻ khủng bố ra lệnh cho ngài chối bỏ đức tin Ki-tô giáo tại nhà thờ Saint Etienne de Rouvray ở Pháp.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, Chúa dạy chúng con phải tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ đầy dẫy trong cuộc lữ hành trần thế, vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn. Xin Chúa thương ban ơn trợ giúp để chúng con biết noi gương Chúa mà chiến thắng mọi cơn cám dỗ trong cuộc sống đức tin thường ngày, nhờ sống lời Chúa dạy trong Tin Mừng.
Tự vấn :
Trong cuộc sống đức tin thường ngày, chúng ta đã chống trả các cơn cám dỗ bằng cách nào ?
C. BÀI ĐỌC THÊM
1. Mối liên lạc thâm sâu giữa Phép Rửa và Cám dỗ
(J. Guillet, “Jésus la foi des premiers disciples” Desclée de Brouwer, 1995, tr. 46-47).
“Mối liên lạc thâm sâu giữa Phép Rửa và Cám dỗ chính là mối liên lạc của đức tin, nơi Đức Giê-su và nơi chúng ta. Cơn cám dỗ rõ ràng là một trong những chỗ mà người ta không thể nào hiểu được Đức Giê-su nếu không nói đến niềm tin của Người. Sống nhờ những gì Thiên Chúa ban cho, hoàn toàn vâng phục Thiên Chúa, một mình đối diện trước hư không, trước một tương lai vô định, dưới nhiều dạng khác nhau, đó chính là kinh nghiệm của đức tin. Và nếu, theo các sách Tin Mừng, kinh nghiệm ấy đi liền với biến cố Phép Rửa, là bởi vì trong biến cố ấy, nó đóng một vai trò rất quan trọng. Và bằng chứng đây là vấn đề của đức tin, đó là những cám dỗ của Đức Giê-su cũng chính là những cám dỗ của dân Chúa trong hoang địa. Khi thắng những cám dỗ ấy, Chúa muốn đồng thời chỉ cho họ thấy họ đang thiếu cái gì và hôm nay Người mang đến cho họ cái gì. Bây giờ nếu trung thành với những chỉ dẫn của các sách Tin Mừng, đối chiếu hai biến cố Phép Rửa và Cám dỗ của Đức Giê-su, người ta sẽ có thể nhận ra được chỗ đứng đặc biệt của đức tin nơi cả hai đoạn. Kết quả đối chiếu bề ngoài có vẻ mâu thuẫn : Phép Rửa là nơi tràn ngập sự hiện diện của Thiên Chúa, là nơi vang rền tiếng phán từ trời cao, trái lại, Cám dỗ là chỗ của sự xa vắng, của đói khát, của trống trải hư không. Phải nói rằng Đức Giê-su đã lần lượt nếm qua cả hai kinh nghiệm chính yếu trên.
Đối lại với lối giải thích nông cạn đó, chúng ta phải để ý đến cách suy luận rất rõ của các Tin Mừng, đến sự nhấn mạnh của các sách ấy vào mối liên lạc thâm sâu giữa hai khoảnh khắc. Không phải chỉ đơn giản là sự tương phản ở hiện tượng bên ngoài, nhưng là một sợi dây nối kết sâu bên trong. Trong câu chuyện này hay câu chuyện kia, nội dung vẫn là Chúa Con trong tương quan với Thiên Chúa. Là Con Thiên Chúa, điều đó mang đến một lúc hai ý nghĩa không thể tách rời nhau : là lắng nghe tiếng nói yêu thương của Chúa Cha, và trọn vẹn vâng phục thánh ý Người. Cả hai làm thành đức tin, đức tin của Con Thiên Chúa.
Đúng là người tín hữu thường phải sống đức tin trong tâm trạng xa vắng và đêm tối tâm hồn. Không có sự xa vắng đó, đức tin sẽ biến chất và tiêu tan thành một thứ thị kiến ảo ảnh. Nhưng ngay trong tâm trạng xa vắng đó, người tín hữu kinh nghiệm một sự gặp gỡ, một sự hiện diện. Thánh Gio-an Thánh Giá đã xây dựng toàn bộ học thuyết của mình trên lời dạy này : nhận biết Thiên Chúa qua đức tin chính là đã đạt được Người trong chân lý của Người, ngay từ cuộc đời này. Cuộc gặp gỡ trong đêm tối này, niềm xác tín thường chỉ là vô thức này, chính là trung tâm, cốt lõi của đức tin chân thật, mà chỉ với một đức tin như vậy chúng ta mới nhận biết một vị Thiên Chúa thật. Đức tin một trật vừa là ánh sáng rực rỡ, vừa là bóng tối thẳm sâu. Cũng thế, một cách bất khả phân ly, ánh sáng của phép Rửa cùng với đêm tối của Cám dỗ, làm nên đức tin của Đức Giê-su Ki-tô, mầm mống của đức tin chúng ta.”
2. “Những cám dỗ của Đức Giê-su cũng là của chúng ta hôm nay”
(Mgr. L. Daloz, trong “Le Règne des cieux s’est apporché”, Desclée de Brouwer, 1994, tr. 34-35).
“Chúng ta thấy : những cám dỗ của Đức Giê-su cũng là của chúng ta hôm nay. Chẳng có gì phải ngạc nhiên. Chúng ta biết rằng nơi Ðấng là Ðầu, toàn Thân Mình đã chiến thắng cám dỗ. Chính nhờ cậy dựa vào Người, mà đến lượt mình, chúng ta có thể thoát được cạm bẫy của tên cám dỗ. Đức Giê-su dạy chúng ta phải đương đầu như thế nào : bằng cách chạy đến với Lời Chúa. Lời Chúa soi đường chỉ lối cho chúng ta đi. Lời Chúa chở che, bảo đảm cho chúng ta khỏi bị lầm lạc. Thật là nguy hiểm nếu chúng ta để mình buông theo xu hướng tự nhiên của loài người : ma quỷ cũng không mong gì hơn chúng ta đồng loã với chúng như thế. Khi ấy Lời Chúa sẽ là thành luỹ bảo vệ chúng ta …”
Suy niệm (Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ)
ĐƯỢC DẪN VÀO HOANG ĐỊA
Phạm tội không thuộc về phận người,
Nhưng bị cám dỗ thì làm người ai cũng phải chịu.
Cả Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người, cũng chịu cám dỗ.
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy cơn cám dỗ đầu tiên của Ngài.
Nhưng Tin Mừng Mát-thêu cho thấy Ngài còn gặp nhiều cám dỗ khác.
Đám đông cám dỗ Ngài làm một dấu lạ từ trời (Mt 16,1).
Chính Ngài thấy mình bị cám dỗ lùi bước trong Vườn Dầu (Mt 26,39.42).
hay có những kẻ cám dỗ Ngài xuống khỏi thập giá (Mt 27,39-44).
Có khi Xatan cám dỗ ngọt ngào qua anh môn đệ Phêrô (Mt 16,21-23).
Đức Giêsu đã thắng mọi cơn cám dỗ trong đời
chỉ vì Ngài biết mình là Con, luôn muốn làm điều đẹp ý Cha.
Đức Giêsu đã không biến cục đá thành bánh, dù Ngài rất đói.
Sau này Ngài cũng không bao giờ làm phép lạ để nuôi mình.
Ngài từng chấp nhận đói và khát như các môn đệ.
Đức Giêsu cũng không liều lĩnh lao mình vào chỗ hiểm nguy,
rồi đòi Thiên Chúa phải bảo vệ mạng sống của mình.
Khi bị đe dọa, nhiều lần Ngài trốn lánh đi, vì biết giờ Ngài chưa đến.
Đức Giêsu đã từ chối mọi vinh quang và quyền lực thế trần
mà quỷ bày ra trước mắt Ngài, với lời mời mọc đầy hứa hẹn.
Ngài từ chối sấp mình bái lạy Xatan
vì Ngài chỉ muốn thờ phượng Cha mà thôi.
Con rắn ranh ma đã cám dỗ bà Eva ăn trái cây mà Chúa cấm.
Bà đã trò chuyện với con rắn, đã nhìn, đã thèm, và đã bất tuân,
rồi lôi kéo cả Ađam cùng sa ngã (St 3).
Dân Do-thái ngày xưa, khi đi trong hoang địa, cũng đã chịu cám dỗ.
Họ đã kêu ca về chuyện bánh ăn, nước uống,
đã thách thức Đức Chúa ở Mê-ri-ba, ở Ma-xa (Xh 17, 1-7),
và đã sụp xuống để lạy con bê được đúc bằng vàng của họ (Xh 32).
Đức Giêsu đã cứu nhân loại bằng sự vâng phục của người Con.
Ngài cho chúng ta niềm hy vọng khi sống trên đời.
Đường đời nào cũng nhiều cám dỗ, thử thách, chông gai.
Con người nhiều khi thấy mình bất lực, yếu đuối, mong manh.
Nhưng nhờ ơn Chúa, thắng được cám dỗ là điều có thể.
Chúng ta cần học cách thắng cơn cám dỗ của Đức Giêsu.
Ngài chỉ thắng các cơn cám dỗ sau khi đã ăn chay 40 đêm ngày.
Ăn chay làm con người yếu mệt,
nhưng cũng làm con người thêm nhẹ nhàng và mạnh mẽ.
Hoang địa là nơi có cả Cha, Con và Thánh Thần,
vì chính Thần Khí đưa Ngài vào đây để gặp Cha trước khi lên đường.
Hoang địa là nơi Đức Giêsu ở một mình, gặp gỡ Cha, cầu nguyện,
và được Cha định hướng cho bước đường sứ vụ sắp tới.
Nhờ biết được kế hoạch của Cha mà Ngài nhận ra ngay mưu mô của quỷ
khi nó đưa ra những đề nghị nham hiểm ẩn dưới lớp áo hiền lành.
Đức Giêsu đã thắng ba cơn cám dỗ nhờ trưng ra ba câu Lời Chúa.
Lời Chúa đủ sức mạnh để làm câm miệng Xatan và bắt nó rút lui.
Cái bi đát và cao cả của phận người là luôn bị cám dỗ,
vì “Quỷ dữ, thù địch của anh em,
như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5,8).
Chẳng nên giả vờ là mình ít khi bị cám dỗ.
Cũng chẳng nên giấu kín những cám dỗ của mình.
Mùa Chay là thời gian “bước vào mùa tập luyện chiến đấu thiêng liêng”.
Chỉ mong chúng ta biết ăn chay, cầu nguyện và đọc Lời Chúa như Giêsu,
để chiến thắng được những cám dỗ khó nhận ra mỗi ngày.
CẦU NGUYỆN
Lạy Chúa Giêsu,
Đôi khi con thấy mình thiếu lịch sự với Chúa,
nhưng lại lịch sự với nhiều người.
Con thường sợ làm người khác buồn,
sợ mình cư xử thiếu tế nhị,
nhưng con ít nghĩ đến chuyện làm Chúa hài lòng.
Con chỉ làm những gì con thích,
dù biết Chúa không ưa.
Con luôn bắt Chúa phải đợi con
vì con thường đặt Chúa sau nhiều thứ khác.
Xin cho con lịch sự hơn với Chúa,
niềm nở đón Chúa vào nhà như ông Da-kêu,
và tập trung như chị Maria khi ngồi lắng nghe Lời Chúa.
Để nếu con không thể tiếp Chúa như một vị khách quý,
thì xin con biết đón Chúa như một người bạn thân.
Suy niệm (Lm. Nguyễn Vinh Sơn, SCJ.)
Câu chuyện
Hai người nghiện rượu trở lại đạo. Một người nói: Từ khi nhập đạo, anh từ bỏ hoàn toàn tật uống rượu. Làm trong nhà hàng mà anh chẳng thèm rượu chút nào.
Người kia nói: Không phải ngày một ngày hai mà tôi bỏ được rượu, nhưng Chúa gìn giữ tôi, không còn say sưa như trước…
Thiên Chúa xử sự với con cái mình mỗi người một cách. Có người được Chúa cất khỏi mọi cám dỗ. Có người Chúa để cho cám dỗ vẫn xảy tới, nhưng Ngài ban ơn để họ khỏi sa chước cám dỗ.
Suy niệm
Chúa Giêsu cũng đã bước vào kinh nghiệm của thân phận con người như chúng ta trong ba cơn cám dỗ nặng nề: ăn uống, cơm áo gạo tiền, giàu sang, quyền bính… Ngài mang nhân tính cùng với con người bước vào hoang địa thử thách cuộc đời. Chính trong thử thách, cám dỗ, Đức Giêsu đã đưa vào sức mạnh của Thiên Chúa qua Lời Chúa để vượt qua. Hình ảnh này gợi nên cho chúng ta những người con đang sống giữa những thử thách gian nan cuộc đời càng bám víu vào Thiên Chúa, như Chúa Giêsu giữa những thất vọng nhất trên thập tự lại bám víu vào Cha. Chính vì lẽ đó, thánh Phaolô đã cảm nghiệm được sự chiến thắng giữa cơn gian nan thử thách: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô ? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo ?… Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu thương chúng ta” (Rm 8,35-37).
Cuối cùng, Ngài đã chiến thắng vinh hiển. Những cơn cám dỗ, thử thách vẫn kéo dài suốt cuộc sống của Ngài, như Kinh Thánh đã viết: “Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ Người, quỷ bỏ đi, chờ cơ hội khác” (Lc 4,13). Trong suốt cuộc đời Ngài, Chúa Giêsu đã cảm nghiệm trận chiến nội tâm giữa điều thiện và điều ác giống hệt chúng ta. Chiến thắng của Chúa cho chúng ta tin rằng, Chúa Giêsu có quyền năng hơn tội lỗi và Satan. Với Ngài, chúng ta có thể vượt qua mọi trở ngại mà tự thân chúng ta chẳng thể thực hiện được.
Cho nên, trước sự mạnh mẽ của những thử thách, cám dỗ trong cuộc đời không làm chúng ta thất vọng, trái lại nó là lời kêu gọi khẩn thiết lòng thương xót của Thiên Chúa. Trước cái “dữ” của tội lỗi, cái thất vọng vì sức chịu đựng của con người không thể đảm đương những thử thách, chúng ta nhìn lên Thiên Chúa và chắc chắn sẽ được Ngài xót thương.
Cuộc sống luôn có những thử thách để tranh đấu, mỗi người có những hoàn cảnh riêng biệt. Chỉ có trong chiến đấu và chiến thắng, con người mới tỏ hiện một con người được cứu độ trong Đức Kitô, Đấng đã không ngừng chiến đấu, giữ được nhân tính không vết nhơ: “Vị Thượng tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4,15).
Nhìn vào hình ảnh Chúa Kitô bị thử thách và chiến thắng, chúng ta được thêm sức mạnh, trong những hoàn cảnh gian nan nhất với sự kiên trung chiến đấu: “Lửa thử vàng, gian nan thử người công chính” (Cn 17,3), và tâm hồn tràn ngập lời di chúc Chúa Kitô: “Trong thế gian, anh em sẽ gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33).
Ý lực sống
“Giữa cảnh gian truân, tôi đã kêu cầu Chúa,
Chúa đáp lời và giải thoát tôi”
(Tv 117,5).


















