Get Adobe Flash player
Tin Mới Nhất
LỊCH CÔNG GIÁO 2018
FACEBOOK CỦA CHÚNG TÔI
Đài phát thanh Chân Lý Á Châu
Lưu trữ tổng thể

Giuse Huỳnh Bá Song

Mãi đến quá hơn 12 giờ trưa ngày 25.8.2018, thì chuyến bay VN 1372 của hảng hàng không Việt nam Airlines mới chịu nhẹ nhàng cất mình rời sân bay Tân Sơn Nhất, trong niềm vui hân hoan của cả đoàn hành hương xuyên Đông dương, thăm viếng thánh tích các Thánh Tử đạo, kết hợp tham quan du lịch ở ba nước Việt Nam – Lào – Thái Lan, nhân kỷ niệm năm Thánh 2018 mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam, do Gia đình Phạt tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu Tổng giáo phận Sàigòn tổ chức.

Đây là chuyến hành hương đi ra nước ngoài khá đông người so với những lần tổ chức trước với 44 thành viên, trong đó có bốn cha đồng hành, và cũng chỉ mới vừa gặp gỡ nhau trước một ngày, chưa quen biết hết mặt nhau nên cũng làm cho Ban tổ chức phải khá băn khoăn, lo lắng. Nhưng không sao, tất cả đã dâng lên Thánh Tâm Chúa xin Người chúc phúc, ban bình an cho cả đoàn trong chuyến hành hương đầy ý nghĩa này, đến với các thánh tích của các Thánh Tử đạo ba nước Đông dương để mời gọi mọi người biết sống đức tin theo gương các Thánh Tử Đạo, để mọi thành viên của đoàn thể qua hành trình này biết ý thức hơn việc cộng tác với Giáo hội trong công cuộc loan báo Tin mừng hôm nay.

Hơn một giờ bay thì phi trường Huế đã hiện ra trong nắng ấm, nhưng phải đến 14 giờ đoàn mới có thể di chuyển vào thành phố vì một sự cố hết sức bất ngờ, hành lý của một thành viên trong đoàn vẫn còn nán lại ở Sàigòn không theo kịp chủ nhân. Công ty du lịch Thái Sơn đón đoàn khá chu đáo bằng một chiếc xe vừa mới nhập về, chỗ ngồi khá rộng rãi nên xoá tan nỗi lo của mọi người về sự mệt nhọc của một hành trình rất dài ngày sắp đến. Giờ bay sớm hơn dự kiến nên gần như mọi người chưa ai có được bửa ăn sáng đầy đủ và giờ đây bụng mọi người đã bắt đầu đói cồn cào. Bửa ăn trưa đột xuất của đoàn đã được căn tin của Coop Mark Huế bên chợ Đông Ba giúp giải quyết kịp thời, nhanh gọn, mát mẻ nhưng: những đĩa cơm chiên, mấy hộp mì chay, vài ba cái lẫu bún hải sản dường như không lấp đầy được những chiếc bụng còn trống rỗng lắm. Sau bửa cơm trưa chớp nhoáng, theo chương trình, đoàn nhanh chóng ghé vào Toà Giám mục TGP Huế để đón hướng dẫn viên đưa đoàn đi tham quan các thánh tích Tử đạo trong thành phố do cha F.X Trần Phương, một linh mục hưu dưỡng nơi đây giới thiệu, nhưng vì đoàn đến khá trễ nên phải đến nhà thờ Phường Đúc để gặp anh. Như chạnh lòng người trước những thánh tích tử đạo mọi người sắp chứng kiến, bầu trời thành phố Huế xế chiều bỗng chuyển mình âm u, những làn mây đen cuồn cuộn giăng kín cả bầu trời khiến cả đoàn lo ngại về một trận mưa to sẽ đến, những chiếc áo mưa dã chiến đã được cha Đaminh Trần Đức Công nhanh chóng cho mua ngay để trang bị dự phòng. Anh Trọng, người giáo dân giáo xứ Phường Đúc – nơi quy tụ phần lớn các thánh tích, địa điểm thường dành để xử hình các tội nhân của triều đình Huế, nhất là các Ki-tô hữu bị kết án tử hình vì không chịu bỏ đạo Chúa năm xưa, đã nhiệt tình trở thành người dẫn đường cho đoàn đến với các thánh tích.

Khu vực Phường Đúc nằm ở ngoại vi thành phố Huế, cách con sông Hương chừng 3 Km, ngày xưa là một vùng đất đồi cao, đường mòn quanh co nhỏ bé, cây cối rậm rạp thưa thớt dân chúng với những người thợ hành nghề đúc đồng và các loại súng thần công của triều đình (phường đúc, thợ đúc) tập trung sinh sống trên đỉnh đồi hoang vắng trống trải, triều đình nhà Nguyễn thường dùng làm nơi hành hình những tội nhân án nặng như chống triều đình, vi phạm các sắc lệnh cấm, hình phạt khủng khiếp có tính răn đe mọi người như voi dầy, bá đao phanh thây… điển hình như các võ tướng của triều Tây Sơn như tướng Võ Văn Dũng, nữ tướng Bùi Thị Xuân… đều bị xử hình nơi đây và các giáo sĩ thừa sai, các Ki-tô hữu kiên quyết giữ đạo cũng không là ngoại lệ. Các con đường dẫn vào nơi đây ngày nay vẫn là những con đường mòn nhỏ bé nên chiếc xe chở đoàn đành nằm lại bên ngoài, mọi người rồng rắn theo chân anh Trọng với chương trình đến thăm ba địa điểm: Khu mộ các ông Thảo Tượng, khu tượng đài Thánh Phaolô Tống Viết Bường và nơi hành hình Thánh Giuse Marchand Du.

Theo con đường bê-tông nhỏ đi dần sâu vào những khu rừng chồi rậm rạp, bên vệ đường hiện ra một khu mộ liền kề được rào chắn khá trang trọng với mười hai ngôi mộ nằm song song một dãy – Khu mộ các ông Thảo Tượng, đây là những Ki-tô hữu trong giai đoạn cấm đạo đầu tiên, bị bắt khi cương quyết không bỏ đạo và hình phạt còn nhẹ nhàng, răn đe: In dấu nung sắt vào trán hai chữ Tả Đạo và án phạt suốt đời cho đến chết là phải hàng ngày cắt cỏ phục vụ cho đàn voi chiến của triều đình. Cả đoàn tập trung chung quanh các ngôi mộ nghe cha Đaminh dẫn giải án lệ năm xưa dành cho những con người không bỏ đạo Chúa, kiên quyết không bước qua Thánh giá và chết rục trong tù với án Thảo Tượng suốt cuộc đời. Những nén hương được thắp lên, những lời kinh nguyện thì thầm trong làn mưa lất phất tâm tình tri ân của cộng đoàn những người Ki-tô hữu hôm nay, được đến để được chứng kiến những chứng nhân Tin Mừng can đảm trong thời cấm cách bách đạo gian khó năm xưa.

Tiếp tục theo con đường cái quan ngoằn ngoèo, nhỏ dần ven con suối nhỏ, đoàn đã dừng chân trước tượng đài của Thánh Tống Viết Bường được xây dựng nằm bên vệ đường, chính nơi mà ông đã chịu phúc tử đạo. Cha Đaminh cúi đầu cầu nguyện trước tượng đài trong khi các thành viên trong đoàn lần lượt quy tụ chung quanh chiêm ngắm pho tượng một vị võ quan, dáng uy nhi với cái nhìn cương nghị, sâu lắng – Thánh Phaolo Tống Viết Bường. Khi cộng đoàn đã tề tựu đông đủ, cha Đaminh bắt đầu giới thiệu về tấm gương tử đạo của ngài. Thánh Phaolo Tống Viết Bường (1773-1833) sinh ra trong một gia đình Công giáo có chức tước trong triều đình, bản thân ông theo hội Thừa sai Paris. Sinh thời ông là một viên quan Thị vệ của vua Minh Mạng rất được vua tin dùng. Năm 1831, có cuộn nỗi loạn trong vùng Đá Vách thuộc tỉnh Quảng Ngãi, vua Minh Mạng sai ông đi dẹp loạn. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trở về, khi ông đang báo cáo tình hình dẹp loạn thì bất ngờ nhà vua hỏi: ”Có đến chùa Non Nước tạ ơn không ?” (Chùa Non Nước lúc bấy giờ nỗi tiếng linh thiêng, các vua quan các triều trước khi hành binh dẹp giặc trở về đều có lệ ghé qua chùa dâng hương bái tạ) thì ông trả lời là “không !”, vì ông là người Công giáo nên không đi vào chùa, điều này khiến nhà vua nỗi giận và bắt ông phải bỏ đạo. Ông cương quyết không chịu nên đã bị vua ra lệnh đánh 80 trượng, phế hết mọi chức tước và phải đi phục dịch trong trại lính, nhưng một thời gian sau nhờ ông đút lót tiền cho quan trên nên được tha về.

Tháng 12 năm 1832, khi chuẩn bị ra sắc lệnh cấm đạo, vua Minh Mạng cho kiểm tra danh sách những Thị vệ theo đạo Công giáo nhưng không thấy tên ông nên ra lệnh bắt giam. Trong ngục, ông liên tục bị tra khảo, nhục hình hầu ép ông bỏ đạo, nhưng ông kiên quyết từ chối. Ông đã bị đem ra chém đầu vào ngày 23 tháng 10 năm 1833 tại trước nền ngôi nhà thờ Phường Đúc vốn đã bị triệt hạ do lệnh cấm đạo (ngày nay là đình làng Dương Xuân Hạ). Theo truyền thuyết, Thánh Phaolo Tống Viết Bường xin được đặc ân phúc tử đạo ngay trên nền nhà thờ Phường Đúc nhưng đêm đó trời mưa to, nước dâng cao, từ đường lộ vào nền nhà thờ phải đi qua một chiếc cầu gỗ ọp ẹp băng qua suối nên kỵ binh áp giải tù không dám mạo hiểm đi qua, phải đi xin đuốc các nhà chung quanh để soi sáng đường. Không đành lòng trước nỗi cơ cực của quân lính trước đây là thuộc hạ dưới quyền, Thánh Phaolo Bường đã quyết định xin tử đạo ngay bên vệ đường chính là nơi tượng đài ngày nay.

Theo các tài liệu Công giáo, trong thời gian bị bắt giam, ông đã nhiều lần được quan trên dỗ dành: ”Này! Hãy theo thời mà sống! Bây giờ vua đang cơn thịnh nộ thì hãy tạm vâng lời bỏ đạo đi cho đẹp lòng vua một lúc, sau này sẽ hay. Việc chi mà phải cứng cỏi làm vậy?“. Nhưng ông thưa lại: “Quan lớn có lòng thương tôi thì tôi xin thưa rằng: “Hãy để tôi trọn một lòng trung hiếu cùng Thiên Chúa của tôi”. Ông cũng khuyên những người khác từng là lính Thị vệ và cũng bị bắt như mình là “Hãy kiên vững lòng tin“ và rằng “Chịu sự khó như vậy là vác Thánh giá theo chân Chúa Giêsu, nếu có đau đớn quá thì hãy xin Đức Mẹ phù trợ cho được hết lòng đến cùng“. Ngày 27 tháng 5 năm 1900, ông được Giáo Hoàng Leo XIII phong Chân phước và vào ngày 19 tháng 6 năm 1988, ông đã được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II phong Hiển Thánh. Tiếng kinh cầu vinh danh các Thánh Tử Đạo vang lên, từng nén hương được trao đến tận tay từng người như những nén hương lòng thành kính dâng lên vị anh hùng tử đạo năm xưa – Xin cho chúng con được kiên vững lòng tin nơi Chúa như lời Thánh nhân đã mời gọi những người anh em cùng bị bách đạo với Ngài.

Trời đã sụp tối mà đoạn đường lên đến đỉnh đồi nơi Thánh Giuse Marchand Du tử đạo năm xưa vẫn còn khá dài. Nhìn các thành viên trong đoàn tuy trong lòng đều hăng hái hồ hởi, nhưng đa số đều lớn tuổi, bước chân đã bắt đầu lê lết, nên anh Trọng quyết định đưa mọi người đi đường tắt, băng qua những lối mòn len giữa các khu rừng chồi, vượt lên cả các ngôi mộ đất đá đủ loại đầy dẫy, hổn độn trong những khu nghĩa địa tự phát của người dân địa phương. Cuối cùng, cây Thánh giá đơn độc nhô lên bầu trời giữa đỉnh đồi, phủ kín bởi những lăng mộ lâu đời của những cư dân xa xưa báo hiệu đã đến đài tưởng niệm, nơi Thánh Giuse Marchand Du tử đạo. Bầu trời lúc này vẫn tiếp tục vần vũ, phủ kín mây đen che khuất cả những vầng nắng yếu ớt buổi chiều còn sót lại, mang thêm những làn hơi sương lạnh phủ khắp khu nghĩa trang, nhưng cũng không đủ giúp bớt những giọt mồ hôi liên tục đổ lấm tấm trên gương mặt mọi người – đường vừa xa, vừa lồi lõm dốc đứng, vừa quanh co khúc khuỷu. Chờ mọi người ổn định, cha Đaminh xúc động giới thiệu chính nơi đây là nơi vị Thánh đã chịu phúc tử đạo vô cùng dã man, đau đớn. Cha sở của giáo xứ Phường Đúc khi xưa đã cố gắng xây một đài tưởng niệm cho ngài nơi đây, để tưởng nhớ gương tử đạo của Thánh nhân, vì thân xác của ngài đã bị triều đình Huế huỷ diệt một cách thảm khốc, để những người Ki-tô hữu lúc bấy giờ sợ hải mà bỏ đạo. Thánh Giuse Marchand Du (1803 – 1835 ) sinh tại Passavaut, Besancon, nước Pháp. Là một linh mục Thừa sai Paris nên sau khi thụ phong tháng 3 năm 1830 cha đã lên đường truyền giáo, tới Việt Nam và lấy tên là Du. Sau một thời gian học tiếng và phong tục Việt Nam tại Lái Thiêu, cha được giao chăm sóc các chủng sinh và 25 giáo họ với khoảng 7.000 giáo dân thuộc tỉnh Bình Thuận.

Vào ngày 16 tháng giêng năm 1833, vua Minh Mạng ra chiếu chỉ lùng bắt các giáo sỉ phương Tây trong cả nước. Tình hình bách đạo lúc bấy giờ rất căng thẳng nên các Đức cha Tabert Từ, cha Cuenot Thể và các thừa sai đã phải dẫn các chủng sinh trốn sang Thái Lan. Riêng chỉ mình cha Du nhất quyết ở lại, lẩn tránh ở miền lục tỉnh, giúp các họ đạo Cái Nhum, Cái Mơn, Bải Xan, Giồng Rùm và trú ngụ tại Mặc Bắc, Vĩnh Long. Khi Lê Văn Khôi, con nuôi của Tổng trấn Sàigòn-Gia Định Lê Văn Duyệt bất mãn triều đình nỗi loạn chiếm thành Phiên An (Sàigòn) và miền lục tỉnh, để có thể quy tụ nhiều người Công giáo ủng hộ mình, Lê Văn Khôi bắt họ và ép cha Du phải vào thành Phiên An để hành đạo cũng như tìm cách mua chuộc cha để cha tiếp sức, nhưng trước sau cha chỉ nói: ”Tôi chỉ biết việc đạo, còn nghề giặc giả binh lính, tôi không rành”. Sau hai năm vây hãm, ngày 9 tháng 9 năm 1835 quân triều đình chiếm được thành. Cha Du bị bắt khi đang hành lễ, bị đánh đập dã man và giam vào chiếc củi nhỏ (dài 1 mét, ngang 7 tấc, cao 8 tấc, và đó chính là “nhà ở“ của cha suốt từ ngày bị bắt, dẫn giải về triều đình Huế cho đến lúc bị tử hình). Tại triều đình Huế, trước toà Tam pháp, họ ép cha nhận tội giúp Lê Văn Khôi làm phản nhưng cha kiên quyết phản đối và cuối cùng vu cáo cha không được, họ ghép cha vào “tội giảng đạo“. Quan trên toà Tam pháp nhiều lần hứa ân xá cho cha nếu cha chịu bước qua Thánh giá, nhưng cha cám ơn quan và tuyên bố: ”Sẵn sàng chịu mọi cực hình chứ không thất trung trước Chúa“. Cuối cùng thừa lệnh vua Minh Mạng họ kết án cha “Tây dương Ma Sang (Marchand ) kêu là danh Du, Gia-tô Đạo trưởng, phò ngụy Khôi, nhận tội viết thư xin Hồng Mao (nước Anh) và Xiêm-la (Thái Lan) sang giúp ngụy thần. Lệnh xử bá đao: nghĩa là bị cắt xẻo 100 nhát trước khi bị phân thây thành 4 mãnh, còn thủ cấp bị bỏ vào cối giả nát và cho rắc xuống biển”.

Ngày 30 tháng 11 năm 1835, sau khi bị thẩm vấn hành hạ lần cuối mà cha vẫn không đổi lòng, tại pháp trường Phường Đúc, cha Du cùng với 4 người trong vụ án Lê Văn Khôi đã bị hành hình và chỉ riêng cha Du bị xử án bá đao. Ngày Thánh Phaolo Marchand Du về trời cũng là ngày kính Thánh An-rê, một vị tông đồ tử đạo của Chúa Giêsu Ki-tô. Cha Đaminh bùi ngùi kết thúc: ”Chính nơi chúng ta đang đứng đây năm xưa là một pháp trường lạnh lẽo, ghê rợn; trước bao nhiêu người ngoại đạo hung hăng, đe doạ, cha Thánh Giuse Du vẫn kiên định bình thản đón nhận cái chết đau đớn, thảm khốc để làm chứng cho Tin Mừng của Chúa”. Lời chia sẻ của cha trong không gian u tịch, phảng phất bầu khí thê lương năm xưa nơi pháp trường lạnh giá, đã làm cho trái tim của mỗi người như nghẹn lại. Năm Thánh Tử đạo Việt Nam là một dấu ấn Đức Tin mà mỗi người Ki-tô hữu hôm nay có được trên bước đường theo Chúa, không thể nào quên được những giọt máu đào của những anh hùng tử đạo năm xưa trên khắp giải đất Việt mến yêu này, đã âm thầm, hiên ngang đổ xuống để ơn Đức Tin của cộng đoàn chúng ta ngày càng được vững bền, sinh hoa kết trái. Trong làn khói nhang nghi ngút, bài ca hào hùng tôn vinh các Thánh Tử đạo Việt Nam được mọi người cất lên trong niềm xúc động vô biên… ”Đây bài ca ngàn trùng, dâng về Thiên Chúa bài ca thấm đượm máu hồng, từng bao người anh dũng tiến lên hy sinh vì tình yêu… Không có tình yêu nào trọng đại cho bằng chết vì yêu, nhìn Chúa đẫm máu trên đồi cao, từng đoàn người anh dũng tiến lên pháp trường… ”. Những giọt mưa lất phất đã bắt đầu nặng hạt, bóng đêm dần chiếm lĩnh đỉnh đồi, các thành viên trong đoàn lặng lẽ theo lối cũ xuống chân đồi trở về xe mang theo trong lòng nặng trĩu bao điều cảm xúc. Nhìn các bác lớn tuổi: Bác Dọc, bác Mô, chị Thung, bác Liễu, bác Tám… người nào cũng trên bảy mươi có lẽ, đôi chân giờ đây dường như tê cứng, bước những bước chân nặng nề, từng bước chầm chậm vẫn cố theo đoàn không một tiếng than van làm tôi vô cùng xúc động. Bác nào cũng cho biết chỉ có tình yêu kính các Thánh Tử đạo hôm nay mới làm được việc phi thường, bám được theo từng tấc đường các Thánh đã bước đi năm xưa để hiến mạng mình làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa… Ngày thường chỉ dăm bước đã thở hổn hển, nói chẳng ra hơi chứ nói gì đi được như hôm nay. Lời tâm tình pha trong ánh mắt đầy hãnh diện của các bác làm tôi cũng thấy được niềm vui -Chỉ có đức tin vẹn toàn mới giúp các bác được vượt qua chính mình.

Bửa cơm tối ở dòng Mến Thánh Giá Huế tại Thánh Địa Lavang trễ hơn dự định, tuy rất mệt nhọc nhưng vẫn rộn rã niềm vui; sau một ngày vất vả được đến với các Thánh tích Tử đạo Việt Nam tại thành phố Huế, mọi người dường như đều cảm nhận được rằng, những khó nhọc của mình so với những hy sinh cao cả của các anh hùng tử đạo năm xưa quả là nhỏ bé ; và đêm nay trong lòng thánh địa, trong vòng tay êm ái của Mẹ La Vang, giấc ngủ đêm đầu tiên của chuyến hành hương của mọi người ắt hẳn rất hạnh phúc vì sẽ được đón nhận ngập tràn ơn thiêng từ Mẹ. (Còn tiếp)

Số lượt xem bài viết (18)